Giữ nhịp điệu múa giáo cờ, giáo quạt giữa đời sống tại Hưng Yên

"Giáo cờ giáo quạt" là điệu múa tồn tại hàng trăm năm, được bảo lưu trong lễ hội làng Thượng Liệt, xã Đông Quan góp phần làm phong phú thêm những nét văn hóa truyền thống độc đáo của quê lúa Hưng Yên.

Điệu múa giáo cờ giáo quạt làng Thượng Liệt, xã Đông Quan hiện còn bảo tồn được 36 cấp múa. (Ảnh: Báo Nhân dân)

Điệu múa giáo cờ giáo quạt làng Thượng Liệt, xã Đông Quan hiện còn bảo tồn được 36 cấp múa. (Ảnh: Báo Nhân dân)

Hàng trăm năm qua, giữa những đổi thay của làng quê đồng bằng Bắc Bộ, nhiều loại hình nghệ thuật dân gian vẫn được người dân gìn giữ như một phần ký ức của cộng đồng.

Ở làng Thượng Liệt (tên Nôm là làng Giắng), xã Đông Quan, tỉnh Hưng Yên, điệu múa giáo cờ, giáo quạt không chỉ xuất hiện trong những ngày hội làng mà còn trở thành niềm tự hào được trao truyền qua nhiều thế hệ. Từ sân đình, điệu múa cổ đang từng bước được đưa đến gần hơn với thế hệ trẻ, với các hoạt động văn hóa và công chúng ở nhiều nơi.

Điệu múa gắn với ký ức làng quê

Theo các thần tích, thần sắc được lưu giữ tại địa phương và lời kể của các bậc cao niên, giáo cờ, giáo quạt do công chúa Quý Minh, con vua Trần Duệ Tông, sáng tạo. Tương truyền, vì không đồng tình với việc kết hôn nội tộc, công chúa rời kinh thành về phủ Long Hưng lập ấp, dựng làng. Khi cuộc sống của người dân dần ổn định, bà sáng tạo điệu múa dựa theo tích “Chiêu quân cống Hồ” để truyền dạy cho dân làng.

Trải qua thời gian, giáo cờ, giáo quạt trở thành một hình thức sinh hoạt văn hóa đặc trưng của cộng đồng. Điệu múa được trình diễn trong những dịp lễ hội, trước sân đình, gắn với không gian thiêng của làng quê và những ước vọng bình dị về cuộc sống no đủ, yên vui.

Giáo cờ, giáo quạt là hình thức múa dân vũ tập thể, có sự kết hợp giữa múa đội hình và những động tác múa đôi. Điệu múa gồm nhiều cấp độ, trong đó có những lớp múa phức tạp như múa sắc ngũ phương, chèo đò, múa rồng..., xen kẽ với các động tác mô phỏng sinh hoạt dân gian như chim bay, cò bay, chao tép, vạt tôm, chèo thuyền.

Tên gọi “giáo cờ, giáo quạt” cũng bắt nguồn từ cách sử dụng đạo cụ. Trong khi múa, người diễn liên tục hoán đổi tay cờ, tay quạt, tức “tráo cờ, tráo quạt.” Theo cách phát âm địa phương, “tráo” được gọi chệch thành “giáo,” từ đó hình thành tên gọi của điệu múa.

Mỗi cô múa cầm một lá cờ ngũ sắc và một chiếc quạt giấy. Cờ gợi hình ảnh những người anh hùng ra trận, đồng thời biểu hiện ước vọng về mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an. Quạt lại gắn với vẻ đẹp mềm mại, sự an nhàn và đời sống gia đình của người phụ nữ. Sự đan xen giữa cờ và quạt tạo nên nét riêng của điệu múa, vừa khỏe khoắn, vừa uyển chuyển.

Phía sau những động tác tưởng như đơn giản ấy là một hệ thống bài bản được truyền lại qua nhiều đời. Tiếng trống giữ vai trò hiệu lệnh, dẫn dắt đội hình. Trước đây, việc truyền dạy được thực hiện khá chặt chẽ. Những cô gái nhỏ trong làng được các “bà thợ”- những phụ nữ lớn tuổi, có uy tín, múa giỏi, hát hay trực tiếp hướng dẫn.

Với nhiều phụ nữ làng Giắng, việc biết múa từng được xem như một phần của đời sống cộng đồng. Điệu múa không chỉ được học để biểu diễn mà còn trở thành ký ức tuổi thơ, ký ức về những mùa hội và những ngày làng rộn rã tiếng trống.

Từ sân đình đến những sân khấu lớn

Điệu múa Giáo cờ giáo quạt được các cô gái biểu diễn tại Đình Thượng Liệt (xã Đông Quan). (Ảnh: Báo Hưng Yên)

Điệu múa Giáo cờ giáo quạt được các cô gái biểu diễn tại Đình Thượng Liệt (xã Đông Quan). (Ảnh: Báo Hưng Yên)

Có những thời điểm chiến tranh khiến lễ hội và việc biểu diễn phải tạm dừng, nhưng các động tác múa vẫn được lưu giữ trong trí nhớ của những người từng tham gia. Khi cuộc sống trở lại bình yên, tiếng trống hội vang lên, những tà áo, lá cờ và chiếc quạt lại xuất hiện trước sân đình.

Năm 1960, 12 cô gái làng Giắng được cử tham gia một hội diễn văn nghệ tại Hà Nội và giành Huy chương Vàng. Đó là một dấu mốc đáng nhớ, khi giáo cờ, giáo quạt lần đầu được đưa ra khỏi không gian làng quê để đến với công chúng rộng hơn. Do thời lượng biểu diễn có hạn, bài múa khi ấy phải được rút gọn, trong khi bản đầy đủ có tới 36 cấp múa và cần nhiều thời gian để thể hiện.

Từ đó, giáo cờ, giáo quạt tiếp tục có những chuyến đi xa. Các đội múa của làng từng biểu diễn tại nhiều địa phương trong nước và ở nước ngoài. Nghệ nhân Bùi Thị Dược là một trong những người từng mang điệu múa quê hương đến Pháp, Bỉ, Bồ Đào Nha. Những buổi biểu diễn ở nước ngoài không chỉ giúp công chúng biết thêm về một loại hình nghệ thuật dân gian của Việt Nam mà còn nhận được sự quan tâm, xúc động của người Việt xa quê.

Những chuyến đi như vậy cho thấy một giá trị khác của di sản: khi được trình diễn đúng cách, một điệu múa bắt nguồn từ sân đình làng vẫn có thể tìm được sự đồng cảm ở những không gian hoàn toàn khác.

Trao truyền lưu giữ di sản

Giữ một điệu múa cổ không đơn thuần là giữ lại những động tác. Điều quan trọng hơn là duy trì được người biết múa, người có khả năng truyền dạy và không gian để điệu múa tiếp tục hiện diện trong đời sống.

Những năm gần đây, địa phương đã quan tâm hơn đến việc tổ chức truyền dạy giáo cờ, giáo quạt. Câu lạc bộ truyền dạy điệu múa cổ được thành lập, với những nghệ nhân, người am hiểu văn hóa làng trực tiếp hướng dẫn thế hệ trẻ. Một số hoạt động ngoại khóa tại trường học cũng đưa điệu múa đến gần hơn với học sinh.

Đây là hướng đi có ý nghĩa, bởi khoảng cách giữa một loại hình nghệ thuật truyền thống và thế hệ trẻ đôi khi bắt đầu từ việc các em không có cơ hội tiếp xúc. Khi những động tác quen thuộc được thực hành ngay từ khi còn nhỏ, di sản không còn là câu chuyện được nghe kể mà trở thành trải nghiệm của chính các em.

Cách truyền dạy cũng đang được điều chỉnh phù hợp với đời sống hiện nay. Nếu trước đây người tham gia múa phải đáp ứng nhiều quy định nghiêm ngặt, ngày nay lực lượng biểu diễn đã mở rộng hơn, có cả phụ nữ trung niên và người cao tuổi. Những thay đổi này giúp đội múa có thêm người kế cận, đồng thời tạo điều kiện để điệu múa tiếp tục tồn tại trong cộng đồng.

Tuy nhiên, việc trao truyền cũng đặt ra yêu cầu phải giữ được cái cốt của di sản. Những cấp múa, nhịp trống, đội hình, cách sử dụng cờ và quạt, ý nghĩa của từng lớp múa cần được ghi chép, sưu tầm và truyền dạy có hệ thống. Đây là cơ sở để giáo cờ, giáo quạt không bị biến dạng khi được đưa lên sân khấu hoặc giới thiệu ở những không gian mới.

Việc đưa giáo cờ, giáo quạt đến với công chúng ngoài địa phương cần được thực hiện theo hướng vừa quảng bá vừa bảo tồn. Có thể xây dựng những tiết mục giới thiệu ngắn gọn về nguồn gốc, câu chuyện và ý nghĩa của điệu múa trước khi biểu diễn; kết hợp trình diễn với thuyết minh, hình ảnh tư liệu để người xem hiểu được phía sau những động tác cờ, quạt là cả một lớp văn hóa làng quê.

Cùng với đó, việc số hóa tư liệu, ghi hình các nghệ nhân thực hành và truyền dạy từng cấp múa cũng cần được chú trọng. Đây là cách lưu giữ hữu hiệu đối với những động tác khó mô tả bằng lời, nhất là khi lớp nghệ nhân am hiểu đầy đủ về điệu múa ngày càng cao tuổi.

Phát huy điệu múa cổ trong đời sống hiện đại

Các em nhỏ bắt đầu làm quen với cờ và quạt, góp một phần vào hành trình gìn giữ di sản. (Ảnh: Báo Nhân dân)

Các em nhỏ bắt đầu làm quen với cờ và quạt, góp một phần vào hành trình gìn giữ di sản. (Ảnh: Báo Nhân dân)

Giá trị của giáo cờ, giáo quạt không chỉ nằm ở tuổi đời hàng trăm năm, điều đáng quý là điệu múa vẫn có người thực hành, có không gian trình diễn và có một cộng đồng coi đó là tài sản tinh thần của mình.

Từ những người phụ nữ từng thuộc từng cấp múa, những nghệ nhân dành nhiều năm truyền dạy, đến các em nhỏ bắt đầu làm quen với cờ và quạt, mỗi thế hệ đang góp một phần vào hành trình gìn giữ di sản.

Để điệu múa tiếp tục phát triển, cần sự chung tay của cộng đồng, chính quyền, ngành văn hóa, nhà trường và những người làm công tác nghiên cứu. Bảo tồn không có nghĩa là giữ nguyên di sản trong một không gian khép kín, mà là tạo điều kiện để di sản được thực hành, được hiểu đúng và có thêm cơ hội hiện diện trong đời sống hôm nay.

Từ sân đình làng Giắng, giáo cờ, giáo quạt đã nhiều lần đi xa. Nhưng dù biểu diễn ở đâu, cội nguồn của điệu múa vẫn là những ngày hội làng, là tiếng trống, màu cờ ngũ sắc, chiếc quạt giấy và những bước chân được trao truyền qua nhiều thế hệ.

Giữ được những yếu tố ấy cũng là giữ lại một phần ký ức văn hóa của vùng đồng bằng Bắc Bộ-nơi những giá trị truyền thống không chỉ nằm trong sách vở hay di tích, mà vẫn đang được gìn giữ bằng chính bàn tay, bước chân và tình yêu của người dân quê.

Với giá trị tiêu biểu, việc bảo tồn điệu múa giáo cờ giáo quạt đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ tháng 9/2018./.

(Vietnam+)

Nguồn VietnamPlus: https://www.vietnamplus.vn/giu-nhip-dieu-mua-giao-co-giao-quat-giua-doi-song-tai-hung-yen-post1130675.vnp