Gỡ điểm nghẽn để chuyển đổi số đi vào thực chất
Chuyển đổi số quốc gia đang chuyển từ yêu cầu số hóa sang bài toán kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu. Từ dữ liệu, nền tảng, hạ tầng đến thể chế, nhân lực, nhiều điểm nghẽn đòi hỏi cách tiếp cận đồng bộ, trong đó nền tảng dùng chung và kiến trúc số thống nhất là những nhiệm vụ trọng tâm.

Tọa đàm “Gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số quốc gia” do Hội Truyền thông số Việt Nam và Tạp chí điện tử VietTimes tổ chức. (Ảnh: Ban tổ chức)
Sáng 24/9, tại Hà Nội, Hội Truyền thông số Việt Nam và Tạp chí điện tử VietTimes tổ chức Tọa đàm “Gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số quốc gia”, trong khuôn khổ chuỗi hoạt động hướng tới Lễ trao Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam-VDA lần thứ 9 năm 2026 và hưởng ứng chiến dịch 100 ngày đêm gỡ điểm nghẽn trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Tọa đàm quy tụ đại diện các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương, doanh nghiệp công nghệ, chuyên gia, nhà nghiên cứu và các cơ quan báo chí, tập trung nhận diện những rào cản trong thực tiễn và đề xuất giải pháp tháo gỡ.
Từ số hóa đến khai thác giá trị dữ liệu
Phát biểu khai mạc, ông Nguyễn Minh Hồng, Chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Thông tin và Truyền thông, nhấn mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển đất nước.
Theo ông, tinh thần của Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị đã đặt ra yêu cầu thúc đẩy mạnh mẽ các lĩnh vực này, qua đó phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và tạo nền tảng cho bước phát triển mới.
“Tọa đàm lần này chính là một hoạt động cụ thể, góp phần nhận diện và tháo gỡ những rào cản, khơi thông nguồn lực để thúc đẩy tiến trình chuyển đổi số quốc gia đi vào thực chất”, ông Nguyễn Minh Hồng nói.

Ông Trần Kiên, Trưởng phòng Chính sách số, Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ chỉ rõ 6 nhóm điểm nghẽn trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. (Ảnh: Ban tổ chức)
Từ thực tiễn triển khai, ông Trần Kiên, Trưởng phòng Chính sách số, Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ, cho biết đang tồn tại khoảng cách đáng kể trong thực thi chuyển đổi số giữa các bộ, ngành và địa phương.
Số liệu 5 tháng đầu năm 2026 cho thấy tỷ lệ tái sử dụng dữ liệu tại các bộ, ngành mới đạt hơn 5%, trong khi tại địa phương đạt 96%. Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến ở các bộ, ngành là 34%, so với 94% tại địa phương; tỷ lệ số hóa hồ sơ và kết quả điện tử lần lượt là 19% và 89%.
Những con số này đặt ra một vấn đề đáng chú ý: số hóa dữ liệu tự thân chưa tạo ra giá trị nếu dữ liệu không được kết nối, chia sẻ và đưa trở lại các quy trình nghiệp vụ.
Theo ông Trần Kiên, từ thực tiễn triển khai có thể nhận diện 6 nhóm điểm nghẽn chính gồm dữ liệu; quy trình; nền tảng; hạ tầng và an toàn thông tin; nhân lực và trách nhiệm; đầu tư và tài chính.
Trong đó, dữ liệu chưa bảo đảm yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống”, kết nối và chia sẻ còn hạn chế. Hiện vẫn còn 4/12 cơ sở dữ liệu trọng yếu và 39/104 cơ sở dữ liệu theo Nghị quyết 11 chưa kết nối, đồng bộ.
Ở khâu quy trình, tình trạng số hóa cách làm cũ vẫn còn phổ biến, trong khi việc tái cấu trúc quy trình và tái sử dụng dữ liệu chưa đạt yêu cầu. Có 80/775 thủ tục hành chính chưa được tái cấu trúc.
Hệ thống nền tảng còn phân mảnh, trùng lặp; hạ tầng tại cơ sở chưa đồng đều, khoảng 30% máy tính chưa đáp ứng yêu cầu công việc. Cùng với đó là những vấn đề về nhân lực chuyên trách, trách nhiệm của người đứng đầu và cơ chế đầu tư, tài chính. Đến ngày 17/6/2026, tỷ lệ giải ngân kinh phí chuyển đổi số mới đạt 12,1%.
Không thể chuyển đổi số bằng những hệ thống rời rạc
Một trong những vấn đề nổi lên tại tọa đàm là yêu cầu hình thành một hệ sinh thái số có khả năng liên thông thay vì tiếp tục phát triển các hệ thống riêng lẻ.
Ở góc độ định danh, đại tá Ngô Như Cường, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (C06), Bộ Công an, cho biết VNeID đang từng bước trở thành điểm chạm số thống nhất phục vụ người dân và doanh nghiệp.
VNeID hiện có 85 tiện ích, hơn 500 triệu lượt truy cập và khoảng 6 triệu người sử dụng mỗi ngày. Ứng dụng đã tích hợp hàng chục triệu dữ liệu, giấy tờ và tiện ích trong các lĩnh vực y tế, giao thông, bảo hiểm, lý lịch tư pháp...

Đại tá Ngô Như Cường, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (C06), Bộ Công an phát biểu tại tọa đàm. (Ảnh: Ban tổ chức)
Tuy nhiên, C06 cũng chỉ ra 4 điểm nghẽn lớn trong quá trình phát triển VNeID, gồm thể chế; liên thông dữ liệu và tổ chức hệ sinh thái; phát huy vai trò chủ thể của công dân số; khả năng sử dụng định danh điện tử xuyên biên giới.
Trong đó, một số vấn đề về giá trị pháp lý của danh tính số, chia sẻ và kiểm soát dữ liệu, cung cấp dịch vụ định danh, xác thực và công nhận kết quả xác thực cần tiếp tục được hoàn thiện.
Đáng chú ý, dữ liệu hiện vẫn phân tán, nhiều hệ thống sử dụng các chuẩn kết nối khác nhau, chất lượng và độ phủ dữ liệu chưa đồng đều. Điều này cho thấy yêu cầu liên thông không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà còn liên quan trực tiếp đến thể chế, quy trình và trách nhiệm quản lý dữ liệu.

Bà Phạm Thị Ngọc Quyên, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Đà Nẵng chia sẻ từ góc nhìn và kinh nghiệm địa phương. (Ảnh: Ban tổ chức)
Từ góc nhìn địa phương, bà Phạm Thị Ngọc Quyên, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Đà Nẵng, nhấn mạnh một bài học quan trọng là mọi chính sách và nền tảng số cuối cùng phải trả lời được câu hỏi: người dân được gì, doanh nghiệp được lợi ích thiết thực gì?
Đà Nẵng cũng đề xuất đổi mới phương thức đo lường hiệu quả chuyển đổi số, lấy mức độ hài lòng, thời gian và chi phí tiết kiệm của người dân, doanh nghiệp cùng tỷ lệ đóng góp thực tế của kinh tế số vào GRDP làm những thước đo quan trọng.
Gỡ khó từ nền tảng và kiến trúc quốc gia
Từ những điểm nghẽn được nhận diện, vấn đề đặt ra ở tầm quốc gia là làm thế nào để tránh tình trạng mỗi bộ, ngành, địa phương tiếp tục đầu tư, xây dựng những hệ thống có chức năng tương tự nhưng không thể kết nối với nhau.
Theo ông Trần Kiên, giải pháp đột phá là xây dựng và đưa vào sử dụng các nền tảng số dùng chung quốc gia.
Bộ Khoa học và Công nghệ đã tham mưu Chính phủ ban hành danh mục 79 nền tảng dùng chung quốc gia tại 14 bộ, ngành Trung ương. Quan điểm được đặt ra là bộ, ngành Trung ương xây dựng và phát triển nền tảng, địa phương tập trung khai thác, sử dụng, tránh phải xây dựng lại những hệ thống đã có ở cấp quốc gia.
Tuy nhiên, nền tảng dùng chung chỉ phát huy hiệu quả khi các hệ thống có thể “nói chuyện” với nhau. Đặc biệt với các nền tảng lớn như VNeID và nền tảng chia sẻ dữ liệu của cơ quan nhà nước theo Nghị định 278 phải tuân thủ các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất.
Ban Chỉ đạo Trung ương đã đề xuất yêu cầu 79 nền tảng sử dụng VNeID để đăng nhập và xác thực. Bộ Khoa học và Công nghệ được giao phối hợp Bộ Công an ban hành hướng dẫn, quy chuẩn chung về xác thực tài khoản người dùng VNeID trên các nền tảng. Đây được xem là một bước quan trọng nhằm tạo sự thống nhất trong kết nối và khai thác các nền tảng dùng chung.
Cùng với nền tảng dùng chung, một nhiệm vụ có ý nghĩa nền tảng khác là hình thành kiến trúc số thống nhất trên phạm vi quốc gia.
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1425/QĐ-TTg ngày 29/7/2026 về Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số phiên bản 1.0. Khung kiến trúc là căn cứ để xây dựng, phát triển, nâng cấp và vận hành hạ tầng số, hệ thống số, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số trong toàn hệ thống chính trị, hướng tới bảo đảm đồng bộ, kết nối, liên thông, chia sẻ và sử dụng chung, đồng thời hạn chế đầu tư phân tán, trùng lặp.
Việc chuyển đổi số đồng bộ cần có một “bức tranh tổng thể”, trong đó phân định rõ các thành phần về thể chế, nền tảng, ứng dụng và hạ tầng; xác định đâu là thành phần dùng chung ở quy mô quốc gia, đâu là phần thuộc trách nhiệm của địa phương.
Sau khi khung kiến trúc tổng thể quốc gia số được ban hành, Bộ Khoa học và Công nghệ đang hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương xây dựng khung kiến trúc riêng, bảo đảm thống nhất với kiến trúc chung.
Vì vậy, trong chiến dịch 100 ngày, kết thúc ngày 30/10, Bộ Khoa học và Công nghệ tập trung vào những vấn đề căn cơ, có tính nền tảng ở quy mô quốc gia.
Từ góc nhìn này, giá trị của chiến dịch 100 ngày không chỉ nằm ở việc xử lý từng “điểm nghẽn” cụ thể, mà quan trọng hơn là tạo chuyển biến trong cách tổ chức và vận hành chuyển đổi số: từ đầu tư các hệ thống riêng lẻ sang kiến trúc thống nhất; từ số hóa hồ sơ sang tái sử dụng dữ liệu; từ xây dựng nền tảng đơn lẻ sang dùng chung và liên thông.
Đó cũng là điều kiện để chuyển đổi số chuyển từ yêu cầu về công nghệ thành năng lực quản trị, tạo giá trị cho người dân, doanh nghiệp và nền kinh tế.
Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/go-diem-nghen-de-chuyen-doi-so-di-vao-thuc-chat-post990775.html

