Gỡ điểm nghẽn để miền núi Đà Nẵng phát triển kinh tế vườn, trang trại trong thời kỳ chuyển đổi số
Trong bối cảnh chuyển đổi số đang trở thành xu hướng tất yếu, Đà Nẵng nổi lên như một điểm sáng trong việc áp dụng công nghệ vào phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, việc nâng chất lượng của mô hình phát triển kinh tế vườn và trang trại ở các vùng miền núi vẫn còn những khó khăn cần tháo gỡ…

Các sở: KH&CN, Nông nghiệp &MT, ký kết hợp tác cung cấp Nền tảng/giải pháp trong sản xuất, điều hành, kết nối các nhà cung cấp và các chủ thể kinh tế vườn, trang trại trên địa bàn thành phố - Ảnh: Sở KH&CN Đà Nẵng.
Sau sáp nhập với tỉnh Quảng Nam, không gian phát triển của thành phố được mở rộng, nông nghiệp Đà Nẵng có quy mô, điều kiện sinh thái và cơ cấu sản xuất đa dạng hơn trước rất nhiều. Với diện tích đất nông nghiệp rộng lớn và đa dạng sinh thái, Đà Nẵng đang đẩy mạnh chuyển đổi số để tận dụng tối đa tiềm năng và lợi thế của mình để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vườn, trang trại phát triển bền vững.
NHIỀU DƯ ĐỊA PHÁT TRIỂN
Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Môi trường, toàn thành phố có khoảng hơn 203 ngàn ha đất sản xuất nông nghiệp, 442 trang trại và 477 sản phẩm OCOP còn thời hạn công nhận. Trong số các sản phẩm OCOP, 19 sản phẩm đã xuất khẩu, doanh thu xuất khẩu năm 2026 dự kiến khoảng trên 100 tỷ đồng. Khu vực kinh tế hợp tác cũng đã hình thành nền tảng tương đối rõ. Hiện, toàn thành phố có 654 hợp tác xã nông nghiệp, tăng thêm 46 hợp tác xã so với năm trước.
Ngành Nông nghiệp Môi trường thành phố đã hỗ trợ 98 dự án liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản, với sự tham gia của 97 hợp tác xã, 77 doanh nghiệp và gần 19 ngàn 500 hộ dân. Tổng nguồn vốn đầu tư của các dự án này đạt trên 381 tỷ đồng. Không gian sinh thái của thành phố cũng tạo ra dư địa lớn cho các mô hình kinh tế vườn, kinh tế trang trại đa dạng. Tổng diện tích rừng và diện tích đã trồng cây rừng hơn 744 ngàn ha, trong đó diện tích rừng hơn 688 ngàn ha. Thành phố đã thu hút 09 tổ chức, doanh nghiệp phát triển Sâm Ngọc Linh và dược liệu.
Bên cạnh sản xuất nông nghiệp thuần túy, Đà Nẵng còn có lợi thế nổi bật về du lịch, dịch vụ, thị trường đô thị và hệ thống nhà hàng, khách sạn. Đây là điều kiện quan trọng để kinh tế vườn, kinh tế trang trại không chỉ tạo ra nông sản mà còn có khả năng phát triển sản phẩm chế biến, OCOP, quà tặng, dịch vụ trải nghiệm và du lịch nông nghiệp xanh…
Bà Vũ Thị Bích Hậu, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Đà Nẵng khẳng định thành phố không thiếu nền tảng sản xuất, chủ thể hay sản phẩm. Điểm cần giải quyết trong giai đoạn tới không còn chủ yếu là mở rộng số lượng mô hình, mà là nâng chất lượng của mô hình phát triển.
Theo bà Hậu, điểm trọng tâm là phải chuyển sang tổ chức lại sản xuất, nâng chất lượng, tăng tỷ lệ chế biến, mở rộng thị trường và sử dụng dữ liệu để nâng hiệu quả quản trị. Nói cách khác, thay vì chỉ hỏi có bao nhiêu vườn, bao nhiêu trang trại, mà cần chuyển sang câu hỏi quan trọng hơn: mỗi khu vườn, mỗi trang trại đang tạo ra bao nhiêu giá trị và còn có thể tạo thêm giá trị ở khâu nào?
NHỮNG ĐIỂM NGHẼN CẦN THÁO GỠ
Tuy nhiên, qua thực tiễn quản lý ngành, lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố cũng nhận diện một số điểm nghẽn mang tính cấu trúc trong phát triển kinh tế vườn và trang trại ở miền núi cần được tháo gỡ, cụ thể như sau:
Thứ nhất, sản xuất vẫn còn phân tán và mức độ liên kết chuỗi chưa đồng đều. Số lượng hợp tác xã, trang trại và dự án liên kết đã tăng, nhưng khả năng tổ chức sản xuất, áp dụng chung quy trình, kiểm soát chất lượng và điều tiết sản lượng giữa các địa bàn, ngành hàng còn khác nhau. Nhiều hộ vẫn tự quyết định giống, thời vụ, sản lượng và phương thức tiêu thụ. Điều này làm tăng chi phí, giảm khả năng chuẩn hóa và hạn chế sức mạnh đàm phán với thị trường.
Thứ hai, chất lượng chưa được chuyển hóa đầy đủ thành giá trị thị trường. Trong kinh tế nông nghiệp hiện đại, người mua không chỉ quan tâm sản phẩm là gì mà còn quan tâm sản phẩm được sản xuất ở đâu, theo quy trình nào, chất lượng được kiểm soát ra sao và có thể truy xuất hay không. Vì vậy, tiêu chuẩn, nhật ký sản xuất, chứng nhận và truy xuất nguồn gốc phải được nhìn nhận như một phần của hạ tầng thị trường. Nếu chứng nhận chỉ tồn tại trong hồ sơ mà không giúp sản phẩm bán tốt hơn thì giá trị kinh tế tạo ra còn hạn chế.
Thứ ba, tư duy “sản xuất trước, tìm đầu ra sau” vẫn chưa được khắc phục triệt để. Trong giai đoạn mới, trình tự phải được đảo lại. Cần bắt đầu từ nhu cầu thị trường, xác định tiêu chuẩn và phân khúc khách hàng, sau đó mới tổ chức sản xuất với quy mô phù hợp.
Thứ tư, dữ liệu sản xuất còn phân tán. Thông tin về hộ sản xuất, trang trại, hợp tác xã, sản phẩm, chứng nhận, sản lượng, vị trí và kênh tiêu thụ chưa được chuẩn hóa đồng bộ. Công tác tổng hợp ở một số nơi vẫn phụ thuộc vào báo cáo thủ công và các bảng dữ liệu rời rạc.Điều này khiến dữ liệu chủ yếu phục vụ báo cáo sau khi sự việc đã xảy ra, chưa thực sự trở thành công cụ hỗ trợ quyết định.
Thứ năm (điểm nghẽn quan trọng nhất) là mô hình tăng trưởng vẫn cần chuyển mạnh hơn từ “tăng lượng” sang “tăng giá trị”. Đất đai là hữu hạn. Nếu tăng trưởng chủ yếu dựa vào mở rộng diện tích hoặc tăng sản lượng thì dư địa sẽ ngày càng thu hẹp. Nguồn tăng trưởng mới phải được tạo ra từ năng suất tốt hơn, chất lượng cao hơn, chế biến sâu hơn, thị trường tốt hơn và sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn.
CHUYỂN TỪ TƯ DUY SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP SANG TƯ DUY KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Định hướng xuyên suốt của ngành Nông nghiệp và Môi trường Đà Nẵng là tiếp tục chuyển mạnh từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp, từ chú trọng sản lượng sang chú trọng giá trị, từ sản xuất riêng lẻ sang tổ chức theo chuỗi và từ khai thác một giá trị sang phát triển đa giá trị.

Mô hình sản xuất rau sạch theo tiêu chuẩn VietGap đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân thành phố Đà Nẵng - Ảnh: Ngô Anh Văn.
Để cụ thể hóa cách tiếp cận đó, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Vũ Thị Bích Hậu đề xuất sử dụng một khung phân tích: Tăng trưởng giá trị = Năng suất × Chất lượng × Chế biến × Thị trường × Hiệu quả nguồn lực. Đây là khung tư duy để nhận diện nguồn tạo tăng trưởng và xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải tác động vào đâu.
Bà Hậu phân tích rõ: Năng suất phản ánh khả năng tạo ra nhiều sản phẩm hơn trên cùng một đơn vị đầu vào. Chất lượng quyết định khả năng đáp ứng tiêu chuẩn và mức giá. Chế biến quyết định tỷ lệ giá trị được giữ lại thay vì bán nguyên liệu thô. Thị trường quyết định khả năng tiêu thụ và tiếp cận phân khúc có giá trị cao hơn. Hiệu quả nguồn lực phản ánh khả năng sử dụng đất, nước, vật tư, năng lượng và lao động một cách tiết kiệm, bền vững hơn.
Theo cách tiếp cận này, không bắt đầu bằng câu hỏi “có công nghệ gì để ứng dụng”, mà bắt đầu bằng câu hỏi “đang cần cải thiện chỉ tiêu nào”. Chỉ sau khi xác định đúng bài toán mới lựa chọn công nghệ phù hợp. Một giải pháp công nghệ nếu không cải thiện được ít nhất một trong năm hợp phần trên, hoặc chi phí áp dụng lớn hơn phần giá trị tăng thêm, thì chưa đủ cơ sở để coi đó là công nghệ tạo ra tăng trưởng thực chất.
CÁC GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM
Theo bà Hậu, có 5 giải pháptrọng tâm để chuyển đổi số trong sản xuất kinh tế vườn, trang trại đạt hiệu quả hơn.
Một là, tổ chức lại không gian sản xuất theo lợi thế và khả năng tạo giá trị của từng vùng như vùng cây ăn quả, vùng dược liệu, kinh tế dưới tán rừng, trang trại tổng hợp và khu vực có khả năng kết hợp du lịch cần được tổ chức theo những mô hình khác nhau. Việc rà soát phải đồng thời xem xét điều kiện sinh thái, chủ thể sản xuất, sản phẩm, khả năng liên kết và thị trường mục tiêu.
Hai là, tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị và lấy thị trường làm điểm xuất phát. Thành phố đã có nền tảng với 98 dự án liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản. Giai đoạn tới cần nâng chất các chuỗi hiện có và ưu tiên hỗ trợ những chuỗi có doanh nghiệp, hợp tác xã, tiêu chuẩn và đầu ra rõ ràng. Hợp tác xã cần chuyển dần từ vai trò cung cấp dịch vụ đầu vào sang tổ chức sản xuất, kiểm soát chất lượng, quản trị dữ liệu, phát triển thương hiệu và kết nối thị trường.
Ba là, chuẩn hóa dữ liệu chuyên ngành và chuyển từ báo cáo bằng dữ liệu sang quản trị bằng dữ liệu. Ngành Nông nghiệp và Môi trường phải xác định bài toán nghiệp vụ, cấu trúc dữ liệu và tiêu chuẩn chuyên ngành. Ngành Khoa học và Công nghệ cùng doanh nghiệp công nghệ cung cấp giải pháp phù hợp. Nguyên tắc cần hướng tới là một lần nhập, nhiều lần sử dụng, hạn chế tình trạng một thông tin được yêu cầu lại ở nhiều chương trình và nền tảng khác nhau.
Bốn là, tăng tỷ lệ giá trị giữ lại tại địa phương. Câu hỏi quản lý không chỉ là sản phẩm bán được bao nhiêu, mà còn là trong giá trị cuối cùng mà người tiêu dùng trả, người sản xuất và kinh tế địa phương giữ lại được bao nhiêu. Muốn tăng phần giá trị này phải phát triển đồng thời sơ chế, chế biến, đóng gói, thương hiệu, OCOP, logistics, thương mại và dịch vụ trải nghiệm. Đây chính là cách chuyển từ bán nông sản sang bán giá trị.
Năm là, đối với ứng dụng khoa học và công nghệ, cần chuyển từ mô hình trình diễn sang mô hình có khả năng kiểm chứng tác động. Có thể xây dựng “vườn số”, “trang trại số”, nhưng không nên đánh giá bằng số thiết bị đã lắp đặt, số tài khoản được cấp hay số mã QR được tạo ra. Mỗi mô hình phải có đường cơ sở trước khi can thiệp và sử dụng cùng hệ thống chỉ số để đánh giá sau một hoặc một số chu kỳ sản xuất.
Bà Hậu cho rằng một mô hình kinh tế được xem xét nhân rộng hay không khi trả lời được ba câu hỏi: giải pháp có tạo ra tác động hay không, tác động ở mức nào và phần giá trị tăng thêm có tương xứng với chi phí đầu tư hay không?
Theo bà Hậu, nên xem xét ưu tiên ba việc, đó là: xây dựng bộ dữ liệu nền về kinh tế vườn, kinh tế trang trại; Lựa chọn một số chuỗi sản phẩm có điều kiện rõ để thí điểm giải pháp số theo phương pháp có đường cơ sở và đánh giá trước, sau; Xây dựng cơ chế phối hợp thường xuyên giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp công nghệ, hợp tác xã, doanh nghiệp tiêu thụ, viện trường và địa phương để kết quả Hội thảo được chuyển thành những mô hình thực tế.
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã và đang thực sự tạo ra động lực tăng trưởng mới cho kinh tế vườn, kinh tế trang trại. Giá trị của khoa học và công nghệ cuối cùng phải được kiểm chứng bằng những thay đổi cụ thể về năng suất, chất lượng, chi phí, thị trường, hiệu quả sử dụng tài nguyên và thu nhập của người làm kinh tế vườn và trang trại. Nghĩa là sau số hóa sẽ tạo thêm được bao nhiêu giá trị trong sản xuất.
Hiện Đà Nẵng là một trong những địa phương điển hình của cả nước về chuyển đổi số nói chung và chuyển đổi số trong sản xuất kinh tế vườn, trang trại nói riêng. Nhờ đó đã tạo ra nguồn tăng trưởng mới từ năng suất tốt hơn, chất lượng cao hơn, chế biến sâu hơn, thị trường tốt hơn và sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn.

