Ngân hàng Việt tăng tốc huy động vốn ngoại

Nguồn vốn huy động trong nước dần thu hẹp trong khi nhu cầu vốn cho tăng trưởng ngày càng lớn đang thúc đẩy các ngân hàng Việt Nam tìm kiếm nguồn tài trợ quốc tế.

Các ngân hàng Việt Nam đang mở rộng huy động vốn quốc tế qua nhiều kênh, từ vay hợp vốn, phát hành trái phiếu đến bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài. Xu hướng này diễn ra trong bối cảnh nhu cầu vốn của nền kinh tế tăng nhanh, trong khi nguồn tiền gửi trong nước ngày càng khó đáp ứng nhu cầu mở rộng tín dụng.

Vốn ngoại mở rộng từ khoản vay đến bán cổ phần

VPBank là một trong những ngân hàng tích cực huy động vốn từ thị trường quốc tế. Cuối tháng 6/2026, ngân hàng ký khoản vay hợp vốn liên kết bền vững trị giá 1,44 tỷ USD với sự tham gia của 15 định chế tài chính quốc tế.

Gần đây, ngân hàng này tiếp tục ký hợp đồng vay 27 triệu USD với Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC), cùng Sumitomo Mitsui Banking Corporation và Joyo Bank. Đây là khoản vay dự án đầu tiên trong hạn mức tín dụng 150 triệu USD được thiết lập từ năm 2024.

Tại HDBank, cuối tháng 7/2026, ngân hàng hoàn tất khoản vay hợp vốn xã hội trị giá 721 triệu USD do Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và Standard Chartered đồng thu xếp. Trước đó, vào tháng 1/2026, HDBank đã phát hành thành công 100 triệu USD trái phiếu xanh quốc tế, với sự tham gia của IFC, FMO và BII.

Ngân hàng dự kiến tiếp tục phát hành tối đa 500 triệu USD trái phiếu quốc tế kỳ hạn ba năm, trong giai đoạn từ cuối năm 2026 đến quý I/2027.

Nhiều ngân hàng lớn khác cũng đẩy mạnh kế hoạch huy động vốn ngoại. MB đã hoàn tất huy động 550 triệu USD vốn vay nước ngoài trong nửa đầu năm. VIB và Techcombank đặt mục tiêu huy động khoảng 1 tỷ USD, trong khi ACB đang xúc tiến tiếp cận khoản vay khoảng 300 triệu USD.

VPBank là một trong những ngân hàng tích cực huy động vốn từ thị trường quốc tế. Ảnh: HA

VPBank là một trong những ngân hàng tích cực huy động vốn từ thị trường quốc tế. Ảnh: HA

Nam A Bank cho biết đã ký thỏa thuận tín dụng xanh với SIFEM AG, định chế tài chính thuộc Chính phủ Thụy Sĩ, đồng thời tiếp cận thêm nguồn vốn từ các quỹ do responsAbility Investments AG quản lý, với tổng quy mô 20 triệu USD. Tính từ đầu năm đến tháng 8, Nam A Bank cho biết đã thu hút gần 350 triệu USD vốn quốc tế.

Bên cạnh các khoản vay, nhiều ngân hàng còn tìm cách tăng vốn chủ sở hữu thông qua phát hành cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài. Đây là kênh huy động vốn có vai trò khác với vay nợ, bởi nguồn tiền thu được có thể trực tiếp bổ sung vốn tự có và tăng khả năng đáp ứng các yêu cầu an toàn vốn.

Techcombank từng đề cập khả năng bán tối đa 15% cổ phần cho một đối tác phù hợp, có năng lực đồng hành dài hạn và hỗ trợ công nghệ. Tuy nhiên, ngân hàng chưa công bố thỏa thuận bán vốn cụ thể.

Tại SHB, Chủ tịch HĐQT Đỗ Quang Hiển cho biết ngân hàng nhận được sự quan tâm từ các nhà đầu tư nước ngoài và xem việc lựa chọn đối tác phù hợp là một phần trong chiến lược phát triển dài hạn.

Trong khi đó, tại đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026, cổ đông VPBank đã thông qua kế hoạch phát hành riêng lẻ hơn 624,3 triệu cổ phiếu cho một nhà đầu tư nước ngoài.

Ở nhóm ngân hàng quốc doanh, Vietcombank dự kiến chào bán tối đa 6,5% số cổ phiếu đang lưu hành cho các nhà đầu tư, bao gồm nhà đầu tư chiến lược và nhà đầu tư chuyên nghiệp.

Chủ tịch HĐQT Nguyễn Thanh Tùng cho biết Mizuho dự kiến tham gia đợt phát hành để duy trì tỷ lệ sở hữu hiện tại và có thể mua thêm cổ phần. Ngân hàng đồng thời nghiên cứu phương án phát hành trái phiếu bằng USD.

BIDV đã hoàn tất đợt chào bán riêng lẻ hơn 258,7 triệu cổ phiếu trong tháng 3/2026, thu về hơn 10.000 tỷ đồng với giá bán bình quân 38.900 đồng/cổ phiếu.

Trong số cổ phiếu được phân phối thành công, nhà đầu tư trong nước mua gần 142,8 triệu đơn vị, còn nhà đầu tư nước ngoài và các tổ chức kinh tế có vốn nước ngoài trên 50% mua hơn 115,9 triệu đơn vị. BIDV dự kiến tiếp tục kế hoạch bán vốn vào cuối năm 2027.

Nguồn vốn trong nước bộc lộ giới hạn

Làn sóng tìm kiếm vốn quốc tế xuất phát từ áp lực ngày càng lớn trong việc cân đối nguồn vốn của các ngân hàng khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động tiền gửi.

Theo FiinRatings, chênh lệch giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và huy động tiền gửi khiến các ngân hàng phụ thuộc nhiều hơn vào vốn liên ngân hàng và phát hành trái phiếu. Đơn vị này dự báo áp lực thanh khoản và chi phí vốn có thể tiếp diễn trong năm 2026.

Tình trạng này còn thể hiện qua sự suy giảm của tỷ lệ nguồn vốn ổn định trong hệ thống, từ khoảng 100% cuối năm 2023 xuống gần 91% cuối năm 2025. Theo đó, phần lớn tiền gửi khách hàng có kỳ hạn dưới một năm, khiến các ngân hàng gặp khó khăn hơn trong việc bảo đảm nguồn tài trợ dài hạn tương ứng với nhu cầu tín dụng.

Bà Phạm Liên Hà, Giám đốc Nghiên cứu cấp cao ngành Dịch vụ tài chính của HSC, cho biết tín dụng tiếp tục tăng nhanh hơn huy động, đưa tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR) toàn hệ thống lên khoảng 115%. Khoảng cách giữa dư nợ tín dụng và tiền gửi ngày càng lớn, trong khi cạnh tranh huy động vốn vẫn rất mạnh.

Theo bà Hà, các ngân hàng hiện không chỉ phải tìm kiếm khách hàng để mở rộng cho vay mà còn phải chủ động tìm thêm nguồn vốn để tài trợ cho sự tăng trưởng của bảng cân đối kế toán.

Áp lực huy động vốn cũng gắn với nhu cầu phát triển của toàn nền kinh tế. Ông Vũ Hữu Điền, Chủ tịch Chứng khoán HDS, cho rằng để phục vụ mục tiêu tăng trưởng GDP 10% trong năm 2026, tín dụng cần tăng 18-20%. Tuy nhiên, theo ông, hệ thống ngân hàng không thể là trụ cột duy nhất đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế.

Bên cạnh nhu cầu tài trợ cho tín dụng, các ngân hàng còn phải bổ sung vốn để duy trì các tỷ lệ an toàn khi quy mô tài sản tăng nhanh. Theo FiinGroup, các doanh nghiệp niêm yết và đăng ký giao dịch có kế hoạch huy động khoảng 289.500 tỷ đồng thông qua phát hành cổ phiếu và IPO trong năm 2026.

Riêng ngành ngân hàng dự kiến huy động khoảng 128.000 tỷ đồng, cao hơn bảy lần lượng vốn thực tế huy động trong năm 2025.

Vốn ngoại bổ sung nguồn lực nhưng không thay thế vốn chủ sở hữu

Mỗi hình thức huy động vốn quốc tế có tác động khác nhau đến thanh khoản và năng lực tài chính của ngân hàng.

Vay hợp vốn và phát hành trái phiếu quốc tế giúp đa dạng hóa nguồn tài trợ, bổ sung thanh khoản và kéo dài kỳ hạn vốn. Tuy nhiên, ngân hàng vẫn phải trả gốc, lãi và đối mặt với rủi ro tỷ giá nếu nguồn vốn ngoại tệ không được cân đối với tài sản tương ứng.

Trong khi đó, phát hành cổ phần giúp tăng trực tiếp vốn chủ sở hữu, củng cố khả năng hấp thụ rủi ro, nhưng có thể làm pha loãng tỷ lệ sở hữu của cổ đông hiện hữu.

Áp lực huy động vốn cũng gắn với nhu cầu phát triển của toàn nền kinh tế. Ảnh: HA

Áp lực huy động vốn cũng gắn với nhu cầu phát triển của toàn nền kinh tế. Ảnh: HA

Với nguồn vốn từ các định chế tài chính phát triển, ông Trần Hoài Phương, Giám đốc Khối Ngân hàng doanh nghiệp tại HDBank, cho biết nguồn vốn này giúp ngân hàng đa dạng hóa tài trợ, giảm phụ thuộc vào thị trường trong nước và nâng cao năng lực cho vay.

Các định chế này còn hỗ trợ tài trợ năng lượng sạch, doanh nghiệp vừa và nhỏ, dự án xã hội, đi kèm yêu cầu về quản trị và tiêu chuẩn sử dụng vốn.

Trong báo cáo mới đây, VIS Rating đánh giá thanh khoản thắt chặt, lãi suất cao và chất lượng tài sản chịu sức ép đang khiến môi trường hoạt động của ngành ngân hàng khó khăn hơn. Khả năng duy trì lợi nhuận, chất lượng tài sản và nền tảng vốn sẽ quyết định mức độ phân hóa giữa các ngân hàng.

Với các ngân hàng tăng trưởng nhanh, vốn quốc tế giúp bổ sung nguồn cho vay và củng cố vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, hiệu quả huy động vẫn phụ thuộc vào chi phí vốn, kỳ hạn, rủi ro tỷ giá và khả năng sinh lời từ nguồn vốn sử dụng.

Nhu cầu vốn gia tăng cũng mở ra cơ hội để các định chế tài chính quốc tế tham gia sâu hơn vào thị trường Việt Nam, từ cấp tín dụng, thu xếp vốn đến đầu tư cổ phần và kết nối doanh nghiệp với thị trường vốn toàn cầu.

Nam Hải

Nguồn Nhà Quản Trị: https://theleader.vn/ngan-hang-viet-tang-toc-huy-dong-von-ngoai-d47985.html