Gỡ 'điểm nghẽn' thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật bằng cơ chế EPR

Bao bì thuốc bảo vệ thực vật là loại chất thải khó thu gom, xử lý, trong khi tỷ lệ thu gom còn thấp. Việc triển khai cơ chế Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) được kỳ vọng tạo 'cú hích' về chính sách và tài chính, góp phần bảo vệ môi trường, sức khỏe cộng đồng và thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững.

Tỷ lệ thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật và chất thải rắn còn rất thấp

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 110/2026/NĐ-CP, là dấu mốc quan trọng trong việc hoàn thiện khung pháp lý về cơ chế Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) tại Việt Nam.

Tại Việt Nam, cơ chế EPR đã được luật hóa trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và từng bước cụ thể hóa qua các văn bản dưới luật. Tuy nhiên, phải đến khi Nghị định 110/2026/NĐ-CP được ban hành, khung pháp lý cho EPR mới tương đối đầy đủ, đồng bộ và rõ ràng, từ nghĩa vụ đóng góp của doanh nghiệp đến cơ chế phân bổ, sử dụng nguồn lực hỗ trợ địa phương triển khai hoạt động tái chế, xử lý chất thải sau tiêu dùng.

EPR được xem là một trong những bước tiến quan trọng trong chính sách môi trường hiện đại. Bản chất của EPR không phải là một loại thuế, mà là cơ chế buộc nhà sản xuất, nhập khẩu chịu trách nhiệm đối với toàn bộ vòng đời sản phẩm, đặc biệt là giai đoạn sau tiêu dùng. Điều này cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở sản xuất và bán hàng, mà còn phải tham gia vào quá trình thu gom, tái chế hoặc xử lý chất thải.

Toàn cảnh diễn đàn.

Toàn cảnh diễn đàn.

Theo lộ trình, từ năm 2024, doanh nghiệp phải thực hiện trách nhiệm tái chế đối với nhiều loại bao bì phổ biến như nhựa, giấy, kim loại, thủy tinh, cũng như các sản phẩm như pin, ắc quy, thiết bị điện, điện tử, lốp xe. Doanh nghiệp có thể lựa chọn tự tái chế, thuê đơn vị trung gian hoặc đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam để Nhà nước thực hiện thay.

Phát biểu tại Diễn đàn “Phổ biến quy định EPR đối với sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật, phân bón và cơ chế hỗ trợ hoạt động xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật tại các địa phương” diễn sáng 14/4, ông Trần Văn Cao, Phó Tổng Biên tập Báo Nông nghiệp và Môi trường, nhấn mạnh EPR là cách tiếp cận chính sách tiến bộ, giúp mở rộng trách nhiệm của doanh nghiệp, đồng thời là công cụ thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững.

Đặc biệt, EPR không phải là một loại thuế mà là cơ chế trách nhiệm, trong đó nghĩa vụ đóng góp cần được thực hiện công bằng giữa các doanh nghiệp.

Tuy nhiên, thực tế triển khai cho thấy dù khung pháp lý ngày càng hoàn thiện, vẫn còn không ít khó khăn trong giai đoạn đầu. Chi phí tăng, thiếu thông tin, năng lực tổ chức tái chế còn hạn chế khiến nhiều doanh nghiệp chưa sẵn sàng thích ứng. Một minh chứng rõ nét là trong lĩnh vực nông nghiệp - nơi phát sinh lượng lớn bao bì thuốc bảo vệ thực vật, loại chất thải nguy hại cần quản lý nghiêm ngặt.

Theo ông Lương Ngọc Quang, Phó Trưởng phòng An toàn thực phẩm và Môi trường (Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp và Môi trường), trong giai đoạn 2022-2024, cả nước đã thu gom gần 2.500 tấn bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng, nhưng vẫn còn hơn 550 tấn chưa được xử lý. Đáng chú ý, trong số lượng đã thu gom, chỉ khoảng 1.400 tấn được xử lý đúng quy định, còn lại người dân tự tiêu hủy hoặc tồn đọng.

Thực tiễn cho thấy tình trạng vứt bỏ bao bì bừa bãi trên đồng ruộng, kênh mương vẫn diễn ra phổ biến, phản ánh thói quen “tiện đâu vứt đấy,” gây nguy cơ ô nhiễm đất và nguồn nước. Bên cạnh đó, theo ông Quang, hạ tầng thu gom cũng chưa đáp ứng yêu cầu. Dù đã có hơn 450.000 bể chứa được xây dựng và hơn 11.700 lớp tập huấn được tổ chức, nhưng nhiều bể chứa chưa đạt chuẩn hoặc xuống cấp, việc thu gom chưa thường xuyên. Đặc biệt, vấn đề kinh phí được xem là “điểm nghẽn” lớn nhất.

"Nhiều địa phương thu gom bao bì nhưng không đủ nguồn lực để vận chuyển và xử lý theo quy định, trong khi cơ chế hỗ trợ còn thiếu rõ ràng,” đại diện Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật thẳng thắn chia sẻ.

Theo ông Nguyễn Hắc Hiển, Chi Cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Đắk Lắk, dù đã tổ chức nhiều lớp tập huấn và ký hợp đồng xử lý chất thải nguy hại, công tác thu gom vẫn còn hạn chế. Hạ tầng thiếu đồng bộ, bể chứa xuống cấp, thu gom không thường xuyên. Một số địa phương chưa chủ động triển khai, trong khi người dân còn thiếu kiến thức, thông tin.

Khung pháp lý và sự tham gia đầy đủ là chìa khóa

Ông Nguyễn Thành Yên, Phó Trưởng phòng Chính sách - Pháp chế (Cục Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết theo quy định, hạn cuối ngày 25/6/2026, các địa phương phải gửi báo cáo thông qua Sở Nông nghiệp và Môi trường, tham mưu ủy ban nhân dân cấp tỉnh về nhu cầu hỗ trợ xử lý chất thải rắn, làm cơ sở tổng hợp, trình bộ xem xét.

Tuy nhiên, để chính sách đi vào thực tiễn, cần tiếp tục tháo gỡ các vướng mắc về thủ tục và tăng tính linh hoạt trong phân bổ nguồn lực. Do vậy, việc yêu cầu các địa phương gửi đề xuất trước ngày 25/6/2026 là một bước đi cần thiết, nhưng cũng đòi hỏi sự chủ động và năng lực quản lý của chính quyền cơ sở.

Tỷ lệ thu gom, xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng còn hạn chế.

Tỷ lệ thu gom, xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng còn hạn chế.

Về trình tự thực hiện đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam để hỗ trợ xử lý chất thải, ông Nguyễn Thành Yên cho hay, trước ngày 1/4 hàng năm, các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm kê khai số tiền đóng góp tài chính hỗ trợ xử lý chất thải đối với các sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật đã sản xuất hoặc nhập khẩu và đưa ra thị trường trong năm liền trước. Việc kê khai được thực hiện trên Hệ thống thông tin EPR quốc gia tại địa chỉ epr.mae.gov.vn.

“Trước ngày 20/4, các đơn vị phải nộp đầy đủ số tiền đã kê khai vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam theo quy định,” ông Yên nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, đại diện Cục Môi trường cũng đề xuất giải pháp tăng cường tuyên truyền để thay đổi hành vi người dân, hoàn thiện hạ tầng và tháo gỡ vướng mắc về cơ chế tài chính, qua đó bảo đảm quy trình xử lý chất thải nguy hại được thực hiện đúng và bền vững.

Còn theo ông Andrew Ward, Giám đốc Quản lý sử dụng sản phẩm Croplife Quốc tế, nhấn mạnh: Cách tiếp cận EPR hoàn toàn phù hợp với định hướng quản lý thuốc bảo vệ thực vật “theo vòng đời” mà mạng lưới CropLife toàn cầu đang theo đuổi thông qua các hoạt động hướng dẫn sử dụng sản phẩm an toàn, hiệu quả và có trách nhiệm (stewardship). Theo đó, các thành viên của CropLife luôn cam kết đầu tư nguồn lực và thể hiện trách xuyên suốt toàn bộ vòng đời sản phẩm – từ nghiên cứu và phát triển, thương mại hóa, sử dụng cho đến thu gom, xử lý và tiêu hủy sau sử dụng. Mục tiêu không chỉ là tối ưu hóa hiệu quả các giải pháp công nghệ mà còn giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực từ việc khai thác và sử dụng công nghệ đến môi trường và sức khỏe con người.

Hiện nay, mạng lưới CropLife toàn cầu đang đồng hành triển khai cơ chế EPR trong hoạt động quản lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật tại hơn 50 quốc gia trên thế giới, với nhiều kết quả tích cực, đặc biệt trong việc nâng cao tỷ lệ thu gom và xử lý bao bì sau sử dụng. Tại Việt Nam, các công ty thành viên của CropLife Việt Nam là những đơn vị tiên phong thực hiện kê khai và hoàn thành nghĩa vụ đóng góp EPR ngay từ những năm đầu triển khai (năm 2022).

Tại Diễn đàn, dựa trên kinh nghiệm triển khai hệ thống quản lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật tại nhiều quốc gia, CropLife cũng chia sẻ một số khuyến nghị nhằm hỗ trợ Việt Nam triển khai hiệu quả cơ chế EPR trong giai đoạn đầu. Theo đó, cần xác định rõ rằng EPR không phải là một loại thuế mà là cơ chế trách nhiệm, trong đó nguồn đóng góp của doanh nghiệp cần được sử dụng đúng mục đích cho hoạt động thu gom và xử lý bao bì. Việc đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong sử dụng nguồn lực là yếu tố then chốt để tạo niềm tin và sự tham gia lâu dài của doanh nghiệp.

Cùng với đó, cần thiết kế cơ chế đảm bảo tính công bằng, tránh tình trạng các đơn vị không thực hiện nghĩa vụ nhưng vẫn hưởng lợi từ hệ thống. Đồng thời, cần có các biện pháp quản lý đối với bao bì từ các sản phẩm không hợp pháp để đảm bảo tính toàn vẹn của hệ thống.

Trong giai đoạn đầu triển khai, cần thiết lập các mục tiêu thu gom mang tính thực tế và khả thi, đồng thời ưu tiên triển khai tại các khu vực có mật độ phát sinh bao bì cao trước khi mở rộng trên phạm vi rộng hơn. Cách tiếp cận này đã được áp dụng hiệu quả tại nhiều quốc gia.

Theo ông Andrew Ward, việc xây dựng và thử nghiệm các mô hình tổ chức và kế hoạch vận hành phù hợp là rất cần thiết, nhằm đảm bảo hệ thống có thể vận hành bền vững về tài chính trong dài hạn, đồng thời tận dụng hiệu quả kinh tế theo quy mô khi mở rộng.

Đặc biệt, cần khuyến khích doanh nghiệp cải tiến thiết kế bao bì theo hướng dễ thu gom, dễ sục rửa và dễ xử lý hơn, qua đó góp phần giảm chi phí và tăng hiệu quả toàn hệ thống.

Thu Trang/Báo Tin tức và Dân tộc

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/kinh-te/go-diem-nghen-thu-gom-bao-bi-thuoc-bao-ve-thuc-vat-bang-co-che-epr-20260414123332458.htm