Góc nhìn văn hoá: Khi văn hóa trở thành mạch nguồn của đại đoàn kết
Việc kết nối Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc 18/11 với Ngày Văn hóa Việt Nam 24/11 để hình thành một chuỗi hoạt động “tuần văn hóa đại đoàn kết dân tộc” không chỉ tạo thêm một không gian sinh hoạt văn hóa trong đời sống xã hội. Sâu xa hơn, đây là cách đặt văn hóa trở lại đúng vị trí của nó: Một nền tảng tinh thần, một nguồn lực nội sinh và một sức mạnh gắn kết cộng đồng.
Theo Chỉ thị số 35/CT-TTg ngày 30/9/2026 của Thủ tướng Chính phủ, các hoạt động từ ngày 18 đến 24/11 được định hướng tổ chức rộng khắp, phong phú, thiết thực, lấy người dân làm trung tâm, là chủ thể tham gia, sáng tạo và thụ hưởng. Cùng với đó là yêu cầu đổi mới phương thức tổ chức, khai thác các thiết chế văn hóa, phát huy di sản, ứng dụng công nghệ, gắn văn hóa với du lịch và công nghiệp văn hóa, đồng thời kiên quyết khắc phục bệnh hình thức, hành chính hóa, thương mại hóa quá mức.
Nhìn từ góc độ văn hóa, đây là một chủ trương có ý nghĩa vượt ra ngoài khuôn khổ của một tuần hoạt động kỷ niệm.

Tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam gắn với Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc. Ảnh: baochinhphu.vn
Không chỉ để “hội”, mà để cộng đồng nhận diện chính mình
Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc từ lâu đã trở thành một sinh hoạt có ý nghĩa trong đời sống cộng đồng. Đó là dịp để người dân trong khu dân cư gặp gỡ, nhìn lại những việc đã làm được, chia sẻ niềm vui, cùng bàn chuyện xây dựng đời sống văn hóa và củng cố tình làng nghĩa xóm.
Trong khi đó, việc lấy ngày 24/11 hằng năm là Ngày Văn hóa Việt Nam, theo Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị, đặt ra một yêu cầu lớn hơn: tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống, khơi dậy lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, phát huy văn hóa như nền tảng tinh thần và động lực phát triển đất nước.
Đặt hai sự kiện cạnh nhau, có thể thấy một mối liên hệ tự nhiên: Đại đoàn kết là sức mạnh của cộng đồng, còn văn hóa là một trong những chất keo bền chặt nhất tạo nên sức mạnh ấy.
Bởi đoàn kết không chỉ được tạo nên từ những mục tiêu chung hay những khẩu hiệu chung. Đoàn kết trước hết được hình thành từ sự chia sẻ những giá trị chung, những ký ức chung và những cách ứng xử chung. Đó có thể là tiếng nói, phong tục, lễ hội, làn điệu dân ca, món ăn, nghề truyền thống, tín ngưỡng, ký ức về quê hương, những câu chuyện lịch sử được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Vì vậy, khi một khu dân cư cùng tổ chức một buổi trình diễn dân ca, một không gian ẩm thực, một cuộc giao lưu giữa người già và người trẻ, một hoạt động truyền dạy nghề truyền thống hay cùng phục dựng một trò chơi dân gian, đó không đơn thuần là hoạt động văn nghệ. Đó là quá trình cộng đồng nhận diện mình là ai, mình đến từ đâu và mình muốn trao lại điều gì cho thế hệ sau.
Điểm đáng chú ý trong Chỉ thị 35/CT-TTg là yêu cầu “lấy người dân làm trung tâm”. Đây chính là chìa khóa để các hoạt động văn hóa tránh rơi vào hình thức.
Văn hóa không thể chỉ được “biểu diễn” cho người dân xem. Văn hóa phải được người dân thực hành, sáng tạo và truyền lại. Người cao tuổi kể chuyện làng, nghệ nhân truyền nghề, thanh niên làm mới chất liệu truyền thống, trẻ em học dân ca, các gia đình cùng chuẩn bị món ăn quê hương… Tất cả những điều tưởng như nhỏ bé ấy lại chính là những mạch ngầm làm nên sức sống của văn hóa.
Nếu người dân chỉ ngồi dưới sân khấu xem một chương trình được dàn dựng công phu, ngày hội có thể đẹp nhưng chưa chắc đã sâu. Ngược lại, một sinh hoạt giản dị nhưng có sự tham gia thực chất của cộng đồng có thể tạo ra ký ức văn hóa lâu dài.
Từ bảo tồn di sản đến kiến tạo tương lai văn hóa
Điểm mới trong định hướng năm nay còn nằm ở việc đưa văn hóa ra khỏi phạm vi “bảo tồn để bảo tồn”, hướng tới phát huy giá trị văn hóa trong phát triển du lịch và công nghiệp văn hóa.
Mỗi địa phương được yêu cầu lựa chọn ít nhất một hoạt động, sản phẩm, câu chuyện hoặc không gian văn hóa tiêu biểu để giới thiệu, quảng bá, gắn với xúc tiến, kích cầu du lịch; mỗi xã, phường lựa chọn ít nhất một mô hình phù hợp để tiếp tục duy trì sau tuần hoạt động. Đây là cách tiếp cận đáng khuyến khích, bởi di sản chỉ thực sự sống khi nó có khả năng tham gia vào đời sống đương đại.
Một làng nghề có thể trở thành điểm đến. Một món ăn truyền thống có thể trở thành sản phẩm du lịch. Một lễ hội dân gian có thể tạo ra thương hiệu địa phương. Một câu chuyện về vùng đất có thể trở thành chất liệu cho điện ảnh, văn học, nghệ thuật số. Một không gian văn hóa cộng đồng có thể trở thành nơi giáo dục lịch sử, trải nghiệm sáng tạo cho thế hệ trẻ.
Nhưng ở đây cần một ranh giới rất rõ: Phát triển từ văn hóa không đồng nghĩa với thương mại hóa văn hóa bằng mọi giá.
Một di sản khi bị biến thành món hàng thuần túy có thể mất đi phần hồn của nó. Một lễ hội nếu bị chi phối bởi lợi ích kinh doanh quá mức có thể đánh mất tính cộng đồng. Một không gian văn hóa nếu chỉ còn phục vụ du khách mà xa rời cư dân bản địa thì cũng khó có thể gọi là bảo tồn bền vững.
Bởi vậy, yêu cầu kiên quyết xử lý tình trạng biến tướng lễ hội, mê tín dị đoan, thương mại hóa quá mức các giá trị di sản cần được nhìn nhận như một nguyên tắc quan trọng. Phát triển công nghiệp văn hóa phải bắt đầu từ việc tôn trọng văn hóa, tôn trọng cộng đồng và bảo đảm lợi ích của những chủ thể đang gìn giữ di sản.
Đặc biệt, yêu cầu đưa Nền tảng Bản đồ số văn hóa Việt Nam vào sử dụng trước ngày 15/11/2026 mở ra một hướng tiếp cận mới. Với công nghệ số, những câu chuyện văn hóa không còn bị giới hạn bởi không gian địa lý. Một di tích ở miền núi, một làng nghề ở đồng bằng, một lễ hội của cộng đồng dân tộc thiểu số hay một không gian văn hóa biển đảo có thể được giới thiệu tới người dân ở mọi miền đất nước, kiều bào và bạn bè quốc tế.
Việc ứng dụng thực tế ảo, AI, truyền thông đa phương tiện vì thế không chỉ nhằm làm cho hoạt động văn hóa “hiện đại” hơn. Giá trị quan trọng hơn là mở rộng quyền tiếp cận văn hóa. Công nghệ, nếu được sử dụng đúng hướng, có thể đưa những câu chuyện tưởng như xa xôi đến gần từng gia đình, từng người trẻ.
Song, công nghệ chỉ là phương tiện. Cái quyết định sức sống của văn hóa vẫn là con người.
Một “tuần văn hóa đại đoàn kết dân tộc” vì thế không nên được đo bằng số lượng sân khấu, số chương trình hay số người tham dự. Cần nhìn vào những giá trị còn lại sau khi tuần hoạt động kết thúc: Có thêm bao nhiêu người trẻ hiểu về di sản quê mình; có bao nhiêu nghề truyền thống được tiếp nối; có bao nhiêu không gian văn hóa được duy trì; cộng đồng có gắn bó hơn không; người dân có thực sự cảm thấy mình là chủ thể của đời sống văn hóa hay không.
Đó cũng là lý do yêu cầu đánh giá kết quả theo các tiêu chí về mức độ tiếp cận, mức độ tham gia và sáng tạo, chất lượng thụ hưởng, giá trị được duy trì và hiệu quả quản lý, quản trị có ý nghĩa thiết thực. Những tiêu chí ấy, nếu được thực hiện nghiêm túc, sẽ giúp chuyển cách đánh giá hoạt động văn hóa từ “đã tổ chức những gì” sang “đã tạo ra giá trị gì”.
Suy cho cùng, kết nối ngày 18/11 với ngày 24/11 không phải để kéo dài một lễ hội thêm vài ngày. Điều quan trọng hơn là tạo ra một dòng chảy văn hóa liên tục, trong đó mỗi cộng đồng vừa là người gìn giữ quá khứ, vừa là chủ thể sáng tạo hiện tại và người kiến tạo tương lai.
Đại đoàn kết cần văn hóa để có chiều sâu và sức bền. Văn hóa cần cộng đồng để không trở thành những giá trị nằm im trong bảo tàng. Khi người dân cùng hát một làn điệu, cùng giữ một nghề, cùng kể một câu chuyện, cùng chăm sóc một di sản và cùng trao lại những giá trị ấy cho thế hệ sau, khi đó văn hóa thực sự trở thành sức mạnh.
Và khi ấy, ngày hội không khép lại vào ngày 24/11. Nó tiếp tục trong từng gia đình, từng khu dân cư, từng làng quê, từng đô thị – trong chính cách người Việt Nam sống với nhau, nhớ về cội nguồn và cùng hướng tới tương lai.
V.X.B
