Công nghệ kiến tạo giá trị mới cho văn hóa
Công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) mở ra cơ hội khai thác tài nguyên văn hóa, phát triển sản phẩm sáng tạo và đưa di sản tiếp cận thị trường rộng lớn hơn. Tuy nhiên, để văn hóa thực sự trở thành động lực của nền kinh tế sáng tạo, cần xây dựng chuỗi giá trị đồng bộ, bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ, hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp và cộng đồng, đồng thời nâng cao khả năng nhận diện, đo lường đóng góp của công nghiệp văn hóa.

Công nghệ được sử dụng trong trình diễn tại Hoàng thành Thăng Long. Ảnh: T.L
Mở rộng không gian sáng tạo văn hóa
Nếu trước đây, việc tiếp cận di sản chủ yếu gắn với không gian địa lý và điều kiện tham quan trực tiếp, thì giờ đây công nghệ số cho phép công chúng khám phá các giá trị văn hóa thông qua hình ảnh ba chiều, không gian tương tác và những câu chuyện đa phương tiện. Chất liệu nghệ thuật truyền thống cũng có thể trở thành nguồn cảm hứng cho các sản phẩm âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, thiết kế và du lịch văn hóa.
Bà Trần Thị Tám - Giám đốc IPCOM VIETNAM cho rằng, từ một nhân vật, câu chuyện hoặc chất liệu dân gian, hoàn toàn có thể phát triển thành nhiều sản phẩm trên các nền tảng khác nhau như phim ảnh, âm nhạc, trò chơi hay thương hiệu điểm đến. Khi được xây dựng bài bản, một giá trị văn hóa không chỉ tồn tại trong không gian bảo tồn mà còn có khả năng tạo ra những trải nghiệm mới, tiếp cận những nhóm công chúng mới và tham gia vào chuỗi giá trị của nền kinh tế sáng tạo.
Cùng quan điểm về tiềm năng phát triển sản phẩm văn hóa đa nền tảng, bà Nguyễn Thị Bích Lan - Viện trưởng Viện Sáng tạo và Chuyển đổi số cho rằng, khi kết hợp với công nghệ số và AI, một giá trị văn hóa sẽ không dừng lại ở một tác phẩm hay sản phẩm đơn lẻ. Một câu chuyện, nhân vật hay chất liệu truyền thống hoàn toàn có thể phát triển đa nền tảng thành phim ảnh, âm nhạc, nội dung số, trò chơi, thương hiệu điểm đến hay sản phẩm tiêu dùng. Đây chính là con đường then chốt để chuyển hóa chất liệu văn hóa thành các “IP văn hóa” có giá trị thương mại cao, đưa văn hóa Việt Nam đóng góp thiết thực vào nền kinh tế sáng tạo và tự tin tham gia thị trường quốc tế.
Tuy nhiên, công nghệ không tự tạo ra giá trị văn hóa. Một sản phẩm có hình thức hiện đại chưa chắc tạo được sức hấp dẫn nếu thiếu nội dung đặc sắc, chiều sâu văn hóa và sự đầu tư nghiêm túc cho quá trình sáng tạo. Việc ứng dụng AI để tái hiện hoặc phát triển chất liệu truyền thống cũng cần chú trọng tính chính xác, nguồn gốc tư liệu và nguy cơ làm sai lệch ý nghĩa văn hóa.
Sở hữu trí tuệ và bài toán chia sẻ lợi ích
Để tài nguyên văn hóa thực sự tham gia vào nền kinh tế sáng tạo, cần tổ chức chuỗi giá trị toàn diện, từ nhận diện nguồn lực, sáng tạo, ứng dụng công nghệ đến thương mại hóa sản phẩm. Quá trình này bắt đầu từ các chủ thể nắm giữ di sản, qua đội ngũ sáng tạo, sự hỗ trợ của công nghệ và năng lực quản trị của doanh nghiệp, trước khi đưa sản phẩm đến thị trường.
Ở góc độ kết nối hệ sinh thái, bà Nguyễn Thanh Giang - Giám đốc Điều hành Mạng lưới Rồng Xanh Fellowship (thuộc Viện Sáng tạo và Chuyển đổi số, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam) đánh giá, định hướng dài hạn là “từng bước hình thành một Nền tảng Văn hóa Sáng tạo Việt Nam”, nơi các dự án, IP, nhà sáng tạo, doanh nghiệp, chuyên gia, nhà đầu tư, công nghệ, địa phương và thị trường có thể được kết nối.Định hướng này đặt ra yêu cầu liên kết các nguồn lực đang phân tán, từ ý tưởng sáng tạo, năng lực công nghệ đến nguồn vốn và thị trường.
Tuy nhiên, khi chất liệu văn hóa được chuyển hóa thành sản phẩm thương mại, các vấn đề về quyền khai thác, sở hữu trí tuệ và phân chia lợi ích cũng trở nên cấp thiết. Chẳng hạn, khi một làn điệu dân ca được sử dụng làm chất liệu cho bản phối khí mới, chương trình trình diễn đa phương tiện hoặc sản phẩm du lịch, cần xác định rõ quyền đối với những yếu tố được sử dụng và phần sáng tạo mới.
Sở hữu trí tuệ vì thế không chỉ là công cụ bảo vệ quyền sau khi tác phẩm ra đời mà cần được tính đến ngay từ đầu trong quá trình xây dựng chuỗi giá trị. Cơ chế rõ ràng về quyền và trách nhiệm sẽ giúp nhà sáng tạo chủ động sử dụng chất liệu văn hóa, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp đánh giá rủi ro, yên tâm đầu tư. Ngược lại, sự thiếu rõ ràng về nguồn gốc tư liệu, phạm vi sử dụng và quyền lợi các bên có thể cản trở hợp tác, hạn chế khả năng thương mại hóa sản phẩm.
Một vấn đề khác là khả năng nhận diện và đo lường đóng góp của công nghiệp văn hóa đối với nền kinh tế. Ông Kiều Công Thược - Phó Chủ tịch Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa cho rằng, công nghiệp văn hóa hiện chưa có cách nhận diện đủ rõ để đo được mức đóng góp vào GDP. Khi chưa được nhận diện thành những lĩnh vực rõ ràng, việc thống kê số lượng doanh nghiệp, hoạt động kinh doanh và giá trị kinh tế mà khu vực này tạo ra còn gặp khó khăn.
Thực tế này đặt ra yêu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu và phương pháp thống kê phù hợp để nhận diện các lĩnh vực hoạt động, đánh giá đóng góp kinh tế và xác định những điểm nghẽn cần tháo gỡ. Khi các mắt xích được kết nối đồng bộ, tài nguyên văn hóa sẽ có thêm cơ hội chuyển hóa thành nguồn lực tăng trưởng, đồng thời tiếp tục được bảo vệ, trao truyền và phát huy trong đời sống đương đại. Đây là nền tảng để phát triển kinh tế sáng tạo gắn với bản sắc văn hóa Việt Nam, bảo đảm hài hòa giữa giá trị tinh thần, lợi ích kinh tế và trách nhiệm đối với cộng đồng.
Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/cong-nghe-kien-tao-gia-tri-moi-cho-van-hoa.html

