Góc nhìn văn hoá: Quy định 224-QĐ/TW - Khơi thông nguồn lực, kiến tạo văn hóa kinh doanh
Quy định số 224-QĐ/TW ngày 14/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh mở ra một cách tiếp cận mới trong nhận thức và quản lý hoạt động kinh tế của đảng viên. Không chỉ tháo gỡ những giới hạn đối với quyền đầu tư, kinh doanh hợp pháp, quy định còn đặt ra yêu cầu cao hơn về đạo đức, trách nhiệm xã hội và kiểm soát xung đột lợi ích.
Dưới góc nhìn văn hóa, đây không đơn thuần là sự điều chỉnh cơ chế quản lý, mà còn là bước chuyển trong tư duy về mối quan hệ giữa lý tưởng phụng sự, quyền làm giàu chính đáng và trách nhiệm nêu gương của người đảng viên trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nhờ có mô hình phát triển kinh tế, gia đình đảng viên trẻ Lò Văn Vượng ở bản Đông, xã Than Uyên (Lai Châu) đã tạo công việc ổn định cho 4 lao động địa phương với thu nhập bình quân từ 4-5 triệu đồng/tháng - Ảnh: TTXVN
Từ định kiến đến tư duy phát huy nguồn lực, khơi thông động lực phát triển
Một trong những điểm đáng chú ý của Quy định số 224-QĐ/TW là khẳng định rõ: Đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh không làm thay đổi bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Tuyên bố này có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi một nguyên tắc tổ chức. Nó góp phần định hình lại nhận thức về lao động, sản xuất, kinh doanh và làm giàu trong điều kiện phát triển mới của đất nước.
Trong đời sống xã hội, kinh doanh đôi khi vẫn bị nhìn nhận qua những định kiến đối lập: Một bên là lý tưởng phụng sự cộng đồng, bên kia là động cơ lợi nhuận và lợi ích cá nhân. Cách nhìn giản đơn ấy chưa phản ánh đầy đủ bản chất của hoạt động kinh tế. Lợi nhuận được tạo ra từ lao động chân chính, sáng tạo, đầu tư hiệu quả và tuân thủ pháp luật không đối lập với lợi ích cộng đồng. Trái lại, một hoạt động kinh doanh lành mạnh có thể tạo việc làm, đóng góp ngân sách, thúc đẩy đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và cải thiện đời sống nhân dân.
Bởi vậy, bước tiến quan trọng của Quy định 224-QĐ/TW nằm ở việc chuyển trọng tâm từ nghi ngại đối với hoạt động kinh tế của đảng viên sang thiết lập khuôn khổ để hoạt động ấy diễn ra đúng pháp luật, có trách nhiệm và được kiểm soát phù hợp. Đảng viên không chỉ được nhìn nhận là người thực hiện nhiệm vụ chính trị, xã hội mà còn có thể phát huy năng lực nghề nghiệp, tri thức, vốn liếng và kinh nghiệm để tạo ra giá trị kinh tế.
Sự thay đổi này có ý nghĩa thiết thực trong bối cảnh đất nước cần khơi thông mọi nguồn lực cho phát triển. Nguồn lực xã hội không chỉ nằm ở vốn tài chính, mà còn ở năng lực tổ chức sản xuất, khả năng quản trị, tinh thần khởi nghiệp, trình độ khoa học và sức sáng tạo của con người. Khi những nguồn lực đó được huy động trong một khuôn khổ minh bạch, nền kinh tế có thêm cơ hội hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Quy định cũng thể hiện cách tiếp cận linh hoạt khi phân loại hoạt động đầu tư kinh doanh theo mức độ tham gia, từ hoạt động chuyên môn và khai thác tài sản tạo thu nhập đến góp vốn, thành lập tổ chức kinh tế, chi phối, quản lý và điều hành doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, quyền và giới hạn của đảng viên được xác định theo chức danh, vị trí công tác và nguy cơ phát sinh xung đột lợi ích, thay vì áp dụng một khuôn mẫu đồng nhất cho mọi đối tượng.
Đối với đảng viên ngoài khu vực công, quy định cho phép thực hiện các hoạt động đầu tư kinh doanh mà pháp luật không cấm, không phải xin chấp thuận của tổ chức đảng, đồng thời yêu cầu báo cáo và kiểm soát khi phát sinh xung đột lợi ích. Đối với cán bộ, công chức, viên chức, người làm việc trong lực lượng vũ trang và người quản lý doanh nghiệp nhà nước, các quyền và giới hạn được thiết kế chặt chẽ hơn, tùy theo chức trách và mức độ rủi ro.
Cách phân định này cho thấy một nguyên tắc quản trị đáng chú ý: Càng nắm giữ quyền lực công, càng phải chịu những giới hạn tương xứng để ngăn ngừa việc chuyển hóa quyền lực thành lợi ích tư. Đây là điều kiện quan trọng để khuyến khích sáng tạo kinh tế mà không làm suy giảm kỷ luật, kỷ cương trong bộ máy.
Dưới góc độ văn hóa, quy định còn góp phần thúc đẩy sự chuyển biến trong quan niệm về thành công và làm giàu. Làm giàu chính đáng không nên bị đồng nhất với chủ nghĩa cá nhân; giá trị của sự giàu có cần được nhìn nhận cùng với cách thức tạo ra nó, những đóng góp mà nó mang lại và trách nhiệm của người sở hữu đối với xã hội. Một doanh nhân thành công không chỉ được đánh giá qua quy mô tài sản, mà còn qua chất lượng sản phẩm, sự tử tế trong quan hệ lao động, tính trung thực với khách hàng và những giá trị bền vững mà doanh nghiệp tạo ra.
Kinh doanh liêm chính - Thước đo của bước đột phá
Nếu việc mở rộng không gian đầu tư kinh doanh là điều kiện để phát huy nguồn lực, thì xây dựng văn hóa kinh doanh liêm chính chính là yếu tố quyết định để bước đột phá ấy phát huy hiệu quả lâu dài.
Điểm đáng chú ý của Quy định 224-QĐ/TW là đặt quyền đầu tư kinh doanh trong mối quan hệ trực tiếp với nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, trách nhiệm với Nhà nước, xã hội, môi trường, người lao động và người tiêu dùng. Đảng viên được khuyến khích phát huy năng lực kinh tế, nhưng đồng thời phải giữ gìn đạo đức kinh doanh, thực hành kinh doanh có trách nhiệm và gương mẫu trong việc thực hiện các nghĩa vụ của mình.
Đây là sự kết nối giữa văn hóa chính trị và văn hóa kinh tế. Văn hóa chính trị đòi hỏi tinh thần phụng sự, trách nhiệm nêu gương và ý thức đặt lợi ích chung trong mối quan hệ hài hòa với lợi ích cá nhân. Văn hóa kinh tế đòi hỏi sự tôn trọng pháp luật, chữ tín, cạnh tranh lành mạnh và thái độ nghiêm túc đối với các cam kết. Khi hai hệ giá trị này gặp nhau, hoạt động kinh doanh không chỉ hướng tới lợi nhuận mà còn phải tạo dựng niềm tin xã hội.
Trong thực tế, nguy cơ lớn nhất không nằm ở việc đảng viên có tài sản hay tham gia kinh doanh, mà ở khả năng lợi ích kinh tế tác động không đúng đến việc thực thi chức trách, nhiệm vụ và quyền hạn. Một quyết định hành chính thiếu khách quan, việc tiết lộ thông tin chưa công khai hay sự ưu ái dành cho doanh nghiệp của người thân đều có thể làm méo mó môi trường cạnh tranh, gây thất thoát nguồn lực và tổn hại niềm tin của nhân dân.
Vì vậy, những quy định về kiểm soát xung đột lợi ích tại Điều 12 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Việc nhận diện xung đột lợi ích phải căn cứ vào mối liên hệ thực tế giữa lợi ích kinh tế với nhiệm vụ được giao, bao gồm cả lợi ích trực tiếp, gián tiếp và lợi ích của người có liên quan, không phụ thuộc đơn thuần vào người đứng tên sở hữu tài sản. Khi xung đột lợi ích phát sinh, đảng viên phải kịp thời báo cáo và không tham gia xử lý công việc có xung đột chưa được kiểm soát, trừ trường hợp được cấp có thẩm quyền cho phép.
Cách tiếp cận này nhấn mạnh rằng liêm chính không chỉ là phẩm chất cá nhân mà còn cần được bảo đảm bằng cơ chế quản trị. Không thể chỉ trông chờ vào sự tự giác, cũng không thể chỉ dựa vào các cam kết đạo đức. Một môi trường kinh doanh lành mạnh cần có quy trình nhận diện rủi ro, cơ chế giám sát, trách nhiệm giải trình và chế tài đủ rõ ràng để mọi chủ thể đều phải tuân thủ.
Đặc biệt, quy định không cho phép đảng viên trong khu vực công sử dụng trái quy định tài sản nhà nước, thông tin, dữ liệu, nhân lực và các nguồn lực công khác phục vụ hoạt động kinh doanh của bản thân, người có liên quan hoặc nhóm lợi ích. Đây là ranh giới căn bản giữa quyền làm giàu chính đáng và hành vi lợi dụng quyền lực. Tài sản công phải phục vụ lợi ích công; quyền lực được giao phải thực hiện vì nhiệm vụ chung, không thể trở thành công cụ tạo lợi thế riêng.
Từ góc nhìn văn hóa, yêu cầu này còn góp phần xây dựng chuẩn mực ứng xử trong xã hội: Thành công phải đến từ năng lực và sự sáng tạo, không phải từ đặc quyền; cạnh tranh phải dựa trên chất lượng và hiệu quả, không phải quan hệ xin - cho; uy tín phải được tạo dựng bằng chữ tín và trách nhiệm, không phải bằng danh nghĩa hay vị trí công tác.
Một điểm tiến bộ khác là quy định khuyến khích đảng viên sau khi thôi giữ chức vụ, thôi công tác hoặc nghỉ hưu phát huy chuyên môn, kinh nghiệm và tri thức để khởi nghiệp, đầu tư kinh doanh, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Nếu được triển khai hiệu quả, chủ trương này có thể giúp xã hội tận dụng tốt hơn nguồn nhân lực giàu kinh nghiệm, đồng thời tạo điều kiện để tri thức tích lũy trong khu vực công tiếp tục đóng góp cho phát triển kinh tế, trên cơ sở tuân thủ các giới hạn pháp luật.
Tuy nhiên, để tinh thần đổi mới đi vào cuộc sống, khâu tổ chức thực hiện có ý nghĩa quyết định. Các hướng dẫn về vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích cần rõ ràng, dễ áp dụng và phù hợp với thực tiễn. Thủ tục chấp thuận phải minh bạch, tránh tùy tiện hoặc phát sinh những rào cản không cần thiết. Việc kiểm tra, giám sát cần dựa trên dữ liệu, thẩm quyền và bằng chứng cụ thể, bảo đảm phân biệt rõ giữa hoạt động kinh doanh hợp pháp với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi.
Cùng với đó, công tác tuyên truyền cần giúp đảng viên và nhân dân hiểu đúng tinh thần của quy định: Khuyến khích kinh doanh không đồng nghĩa với buông lỏng kỷ luật; kiểm soát xung đột lợi ích không đồng nghĩa với phủ nhận quyền tài sản hợp pháp. Hai yêu cầu này phải được thực hiện đồng thời để vừa bảo vệ quyền lợi chính đáng của cá nhân, vừa giữ vững sự công bằng và liêm chính trong đời sống kinh tế.
Có thể nói, Quy định số 224-QĐ/TW mở ra cơ hội để hình thành một chuẩn mực mới về người đảng viên trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: Có năng lực làm kinh tế, có ý thức làm giàu chính đáng, có bản lĩnh trước những cám dỗ của lợi ích và có trách nhiệm với cộng đồng. Giá trị của bước đột phá không chỉ nằm ở số lượng đảng viên tham gia đầu tư, kinh doanh hay quy mô nguồn vốn được huy động, mà còn ở chất lượng văn hóa kinh doanh được hình thành.
Khi quyền làm giàu được đặt trong khuôn khổ pháp luật, lợi ích cá nhân được hài hòa với lợi ích cộng đồng và quyền lực công được kiểm soát bằng những nguyên tắc minh bạch, phát triển kinh tế sẽ có thêm nền tảng đạo đức vững chắc. Đó cũng là con đường để tinh thần tiên phong, gương mẫu của người đảng viên được thể hiện bằng những giá trị cụ thể trong lao động, sáng tạo và cống hiến, góp phần xây dựng một nền kinh tế năng động, một xã hội liêm chính và một nền văn hóa phát triển bền vững.
V.X.B
