Greenland và 'ký ức phóng xạ' từ vụ rơi bốn quả bom hạt nhân

Năm 1968, một máy bay ném bom Mỹ chở bốn quả bom hạt nhân lao xuống lớp băng gần căn cứ Thule ở Greenland. Vụ tai nạn không gây nổ hạt nhân, nhưng đã để lại plutonium trong băng và đáy biển, trở thành một dấu tích phóng xạ dai dẳng của thời Chiến tranh Lạnh.

Hình ảnh chụp từ trên cao các vòm radar tại cơ sở của Phân đội 3, Không đoàn Hỗ trợ Không gian số 3 thuộc Căn cứ Không quân Thule., tại Greenland. Ảnh: Global Look Press/IMAGO

Hình ảnh chụp từ trên cao các vòm radar tại cơ sở của Phân đội 3, Không đoàn Hỗ trợ Không gian số 3 thuộc Căn cứ Không quân Thule., tại Greenland. Ảnh: Global Look Press/IMAGO

Mỹ, Đan Mạch và Greenland vừa ký thỏa thuận mới nhằm mở rộng hoạt động quân sự của Mỹ trên hòn đảo Bắc Cực. Washington coi Greenland có vai trò quan trọng đối với an ninh, nhưng việc tăng cường hiện diện quân sự cũng đặt ra một câu hỏi cũ: Greenland sẽ phải đối mặt với những rủi ro nào?

Theo đài RT, thỏa thuận mới được xây dựng trên nền tảng quan hệ hợp tác quốc phòng có từ năm 1951. Lịch sử của mối quan hệ này từng ghi dấu một sự cố cho thấy rõ những rủi ro từ chiến lược quân sự của Mỹ trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh: một sứ mạng của Không quân Mỹ trên Greenland đã kết thúc bằng một tai nạn liên quan đến vũ khí hạt nhân.

Những chuyến bay mang bom hạt nhân trên bầu trời Greenland

Trong những năm 1960, giữa thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Không quân Mỹ triển khai Chiến dịch Chrome Dome, duy trì các máy bay ném bom mang vũ khí hạt nhân bay tuần tra liên tục, sẵn sàng tấn công Liên Xô nếu cần thiết.

Về lý thuyết, chiến lược này giúp Mỹ tránh nguy cơ lực lượng hạt nhân trên mặt đất bị vô hiệu hóa chỉ sau một đòn tấn công. Tuy nhiên, khi số lượng các chuyến bay tuần tra mang vũ khí hạt nhân tăng lên, nguy cơ xảy ra sự cố cũng gia tăng.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ khi đó là Robert McNamara ủng hộ việc chấm dứt chương trình, cho rằng Mỹ đã xây dựng được hệ thống cảnh báo sớm hiệu quả đối với các vụ phóng tên lửa đạn đạo, qua đó có thể giảm rủi ro và chi phí. Tuy nhiên, Bộ Tư lệnh Không quân Chiến lược Mỹ phản đối vì lo ngại việc này sẽ làm giảm vai trò và ngân sách của lực lượng.

Một sự cố nghiêm trọng xảy ra năm 1966 tại Tây Ban Nha, khi một máy bay ném bom va chạm với máy bay tiếp dầu, khiến nhiều người thiệt mạng và các quả bom hạt nhân rơi xuống bờ biển cùng vùng biển Địa Trung Hải.

Máy bay B-52 Stratofortress của Không quân Mỹ. Ảnh: RT

Máy bay B-52 Stratofortress của Không quân Mỹ. Ảnh: RT

Sau sự cố, Mỹ giảm số lượng máy bay tuần tra nhưng vẫn duy trì hoạt động này.

Căn cứ Không quân Thule ở phía Bắc Greenland được xây dựng từ những năm 1950. Vị trí của căn cứ đặc biệt thuận lợi cho việc theo dõi các vụ phóng tên lửa từ Liên Xô và tiến hành hoạt động trinh sát khu vực Novaya Zemlya, nơi Liên Xô tiến hành các vụ thử hạt nhân.

Bộ Tư lệnh Không quân Chiến lược Mỹ sau đó xây dựng một căn cứ quân sự tại phía Bắc Greenland. Cái tên Thule bắt nguồn từ “Ultima Thule”, cách gọi một hòn đảo huyền thoại nằm ở tận cùng thế giới.

Trong thời kỳ hoạt động mạnh nhất, căn cứ Thule có khoảng 10.000 người, cùng máy bay ném bom, máy bay trinh sát, hệ thống radar, các cơ sở phóng tên lửa và radar cảnh báo sớm.

Mỹ cũng triển khai Dự án Iceworm tuyệt mật, nhằm xây dựng một mạng lưới các bệ phóng tên lửa hạt nhân được che giấu trong những đường hầm bên dưới lớp băng Greenland.

Sự cố với bốn quả bom nhiệt hạch

Ngày 21/1/1968, một máy bay ném bom B-52 cất cánh, mang theo bốn quả bom nhiệt hạch, mỗi quả có sức công phá hơn 1 megaton. Nhiệm vụ của máy bay là tham gia hoạt động giám sát hệ thống cảnh báo hạt nhân.

Ban đầu, chuyến bay diễn ra bình thường. Nhưng sau đó, một sự cố bắt nguồn từ những yếu tố tưởng như rất nhỏ đã xảy ra.

Thiếu tá Alfred d’Amario mang theo một số đệm mút phủ vải để ngồi thoải mái hơn trong chuyến bay. Ông đặt chúng dưới ghế của hoa tiêu huấn luyện rồi rời vị trí để thay cho cơ phó Leonard Svitenko nghỉ ngơi. Những chiếc đệm vẫn nằm nguyên dưới ghế.

Không lâu sau, phi công mở một van dẫn khí nóng từ động cơ vào hệ thống sưởi. Hệ thống sưởi bị lỗi và nhanh chóng trở nên quá nóng.

Phi hành đoàn bắt đầu ngửi thấy mùi cao su cháy trong buồng lái. Trong lúc họ tìm kiếm nguồn phát ra mùi, một đám cháy đã bắt đầu bùng lên. Hoa tiêu phát hiện ngọn lửa và cố dập bằng hai bình chữa cháy nhưng không thành công.

Cơ trưởng John Haug yêu cầu được hạ cánh khẩn cấp xuống căn cứ Thule. Toàn bộ bình chữa cháy đã được sử dụng nhưng ngọn lửa vẫn lan rộng. Khói trong buồng lái dày đến mức các thành viên gần như không thể nhìn thấy nhau.

Khi máy bay tiến gần căn cứ, Haug ra lệnh cho phi hành đoàn nhảy dù. Trong số 7 thành viên, 6 người thoát khỏi máy bay tương đối an toàn. Cơ phó Leonard Svitenko tử vong do chấn thương ở đầu trong lúc tìm cách thoát khỏi máy bay.

Haug và d’Amario đáp xuống ngay trong khu vực căn cứ. Nhân viên căn cứ lập tức tổ chức tìm kiếm những người còn lại. Đêm vùng cực bao trùm Greenland, thời tiết khắc nghiệt khiến công tác cứu hộ gặp nhiều khó khăn.

Một đại diện của Cơ quan Thương mại Hoàng gia Greenland, Jens Zinglersen, đã hỗ trợ đáng kể khi liên hệ với người Inuit địa phương. Họ tổ chức các đội xe chó kéo tham gia tìm kiếm và giúp xác định vị trí ba phi công khác, những người đã hạ xuống cách căn cứ khoảng 2,4 km.

Xạ thủ Staff Sergeant Calvin Snapp gặp tình cảnh khó khăn hơn. Ông nhảy dù đầu tiên và rơi xuống một địa điểm cách căn cứ gần 10 km, trong nhiệt độ khoảng -30 độ C. Snapp quấn mình trong dù và chờ cứu hộ suốt 21 giờ. Khi được tìm thấy, ông còn sống nhưng bị hạ thân nhiệt nghiêm trọng.

Trong khi đó, chiếc B-52 chở các vũ khí nhiệt hạch vẫn tiếp tục bay về phía Bắc trước khi bốc cháy và lao xuống lớp băng, cách căn cứ khoảng 12 km về phía Tây.

Nhiên liệu còn lại trên máy bay bắt lửa, tạo ra một vụ cháy lớn trên mặt băng. Các chất nổ thông thường bên trong những quả bom phát nổ, làm tan một phần lớp băng và phát tán vật liệu phóng xạ.

Sự cố càng trở nên nhạy cảm bởi Greenland khi đó thuộc Đan Mạch, quốc gia tuyên bố toàn bộ lãnh thổ của mình là khu vực không có vũ khí hạt nhân.

Máy bay mang vũ khí hạt nhân đã rơi xuống Greenland, trong khi phần lớn người dân Đan Mạch không biết rằng các mảnh vỡ nhiễm phóng xạ đang nằm rải rác trên mặt đất.

Chính phủ Đan Mạch nhanh chóng đưa ra tuyên bố rằng máy bay không ở trong không phận Greenland mà chỉ đi vào khu vực này do tình trạng khẩn cấp trên máy bay. Sau đó, các tài liệu được giải mật cho thấy bức tranh phức tạp hơn về mức độ hiểu biết của giới chức Đan Mạch đối với hoạt động hạt nhân của Mỹ tại Greenland.

Chiến dịch dọn dẹp hậu quả thảm họa

Chiến dịch thu dọn hậu quả được đặt tên "Crested Ice", hay còn được gọi không chính thức là “Doctor Freezelove”.

Một đội ngũ gồm các nhà khoa học, chuyên gia hạt nhân và đông đảo binh sĩ được điều tới Greenland với nhiệm vụ thu gom vật liệu phóng xạ trước khi mùa Xuân tới và băng tan có thể cuốn vật liệu nhiễm xạ ra biển.

Băng nhiễm bẩn đang được chất vào các thùng thép để vận chuyển sang Mỹ trong khuôn khổ Dự án Crested Ice, năm 1968. Ảnh: Không quân Mỹ / Wikimedia Commons

Băng nhiễm bẩn đang được chất vào các thùng thép để vận chuyển sang Mỹ trong khuôn khổ Dự án Crested Ice, năm 1968. Ảnh: Không quân Mỹ / Wikimedia Commons

Điều kiện thời tiết khiến nhiệm vụ đặc biệt khó khăn. Gió mạnh và nhiệt độ xuống thấp trong đêm vùng cực buộc lực lượng tham gia phải làm việc dưới ánh đèn pha.

Vật liệu phóng xạ được phát hiện trên một khu vực rộng khoảng 1,6 km x 4,8 km. Ở trung tâm là một hố băng đường kính khoảng 50 m. Một khu vực bị cháy đen, rộng khoảng 670 x 120 m và nhiễm uranium, plutonium, có thể nhìn thấy từ trên không.

Ban đầu, phía Mỹ đề xuất chờ mùa Xuân để băng tan và vật liệu nhiễm xạ chìm xuống vùng biển Bắc Cực. Đan Mạch phản đối và yêu cầu Mỹ xử lý hậu quả, nếu không căn cứ Thule có thể phải đóng cửa.

Nhóm của tướng Richard Overton Hunziker sau đó thiết lập một khu căn cứ tạm thời trên băng, gồm khu nhà ở, trạm điện, đường băng, trung tâm liên lạc và khu khử nhiễm. Một tuyến đường băng nối khu vực này với căn cứ Thule.

Hàng nghìn người làm việc trong điều kiện khắc nghiệt để cắt lớp băng nhiễm xạ, thu gom và vận chuyển tới các điểm tập kết. Băng được xúc bằng máy, đóng vào thùng gỗ rồi đưa vào các bồn thép để vận chuyển bằng tàu tới Mỹ. Những mảnh vỡ lớn được thu gom bằng tay, trong khi các khu vực nhiễm xạ được xác định bằng máy đo Geiger.

Đến giữa tháng 9/1968, chiến dịch chính thức kết thúcK sau khi huy động khoảng 1.700 người Đan Mạch và 700 người Mỹ tham gia.

Những gì lớp băng không thể chôn vùi

Người ta ước tính khoảng 93% vật liệu phóng xạ đã được thu gom, nhưng một phần vẫn còn nằm dưới đáy biển. Một quả bom nhiệt hạch được cho là đã chìm cùng các mảnh vỡ khác. Những nỗ lực tìm kiếm bằng tàu lặn không xác định được vị trí chính xác của quả bom.

Đến những năm 1980 và 1990, vụ việc lại trở thành tâm điểm tranh cãi khi các công nhân Đan Mạch tham gia dọn dẹp khởi kiện chính phủ Mỹ. Họ thất bại trong vụ kiện, nhưng cuộc chiến pháp lý góp phần thúc đẩy việc công bố nhiều tài liệu từng được xếp loại mật.

Các cuộc điều tra sau đó cho thấy tỷ lệ tử vong do ung thư ở nhóm công nhân Đan Mạch tham gia dọn dẹp cao hơn khoảng 1,5 lần so với dân số nói chung. Các tài liệu cũng cho thấy hoạt động theo dõi sức khỏe của những người tham gia sau vụ tai nạn còn hạn chế.

Người Inuit sống gần Căn cứ Không quân Thule, Greenland, vào năm 1968. Ảnh: Wikimedia Commons

Người Inuit sống gần Căn cứ Không quân Thule, Greenland, vào năm 1968. Ảnh: Wikimedia Commons

Tuy nhiên, các nhà chức trách sau đó kết luận rằng mức phơi nhiễm phóng xạ không đáng kể và không tìm thấy mối liên hệ giữa tỷ lệ ung thư gia tăng với vụ tai nạn năm 1968.

Vụ việc cũng làm dấy lên tranh luận về mức độ hiểu biết của các thủ tướng Đan Mạch Jens Otto Krag và H.C. Hansen đối với hoạt động của Mỹ tại Greenland. Các tài liệu được giải mật cho thấy chính phủ Đan Mạch đã biết về hoạt động này và H.C. Hansen từng bí mật cho phép Mỹ sử dụng căn cứ Thule trong hệ thống răn đe hạt nhân.

Sau tai nạn, Chiến dịch Chrome Dome chính thức chấm dứt. Đây là vụ tai nạn hạt nhân thứ hai trong vòng ba năm, trong bối cảnh Mỹ và Liên Xô đều đã sở hữu một lượng lớn tên lửa hạt nhân và vai trò của máy bay ném bom trong chiến lược răn đe bắt đầu thay đổi.

Sau đó, Mỹ và Liên Xô bước vào một giai đoạn hòa dịu mới, đồng thời xây dựng các quy trình nhằm xử lý những sự cố liên quan đến vũ khí hạt nhân. Những thay đổi này không thể xóa bỏ hậu quả đối với những người bị ảnh hưởng bởi vụ tai nạn ở Greenland, nhưng góp phần làm giảm nguy cơ xảy ra những sự cố tương tự trong tương lai.

Thu Hằng/Báo Tin tức và Dân tộc (RT)

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/greenland-va-ky-uc-phong-xa-tu-vu-roi-bon-qua-bom-hat-nhan-post1389999.html