GS Nguyễn Đình Đức: Không thể tự chủ chiến lược quốc gia nếu không có khoa học cơ bản mạnh

Từ định hướng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, chuyên gia cho rằng khoa học cơ bản là nền tảng tri thức KH-CN, quyết định năng lực tự chủ chiến lược quốc gia.

Không thể chỉ đi theo công nghệ của người khác

Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt khoa học cơ bản ở vị trí chiến lược, ngang tầm các động lực tăng trưởng truyền thống.
Muốn trở thành nước phát triển vào năm 2045, Việt Nam không thể chỉ đi theo công nghệ của người khác mà phải tạo ra, làm chủ và đóng góp tri thức mới.

Tháo "điểm nghẽn" cơ chế để khoa học tạo đột phá

Đột phá không chỉ ở tăng đầu tư mà ở thay đổi tư duy quản trị khoa học, tháo gỡ nút thắt.
Chuyển từ "quản lý hành chính" sang "quản trị sáng tạo", từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm". Chấp nhận rủi ro khoa học để tránh tư duy làm đề tài an toàn, lặp lại, thiếu sáng tạo.
Đổi mới cách đánh giá thành tựu từ "đếm sản phẩm" sang “đo giá trị", chú trọng chiều sâu học thuật, đào tạo nhân lực và tác động dài hạn.

Khoa học xã hội, nhân văn giữ vai trò kiến tạo tương lai

Lần đầu khoa học xã hội và nhân văn được đặt ngang tầm chiến lược với khoa học tự nhiên và công nghệ.
Không chỉ cần công nghệ mạnh, Việt Nam còn cần thể chế mạnh, văn hóa mạnh, năng lực quản trị và nền tảng giá trị xã hội vững chắc.
Khoa học xã hội và nhân văn giúp trả lời các câu hỏi lớn về mô hình phát triển, bản sắc dân tộc, quản trị quốc gia và phát triển bền vững.

Không thể chỉ đi theo công nghệ của người khác

Trả lời PV Báo Điện tử VTC News về kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, nguyên Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội) đánh giá, đây là một chuyển biến rất căn bản trong tư duy phát triển của đất nước.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc cho chủ trương về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản. (Ảnh: TTXVN)

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc cho chủ trương về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản. (Ảnh: TTXVN)

Trong một thời gian dài, tăng trưởng chủ yếu được nhìn qua các động lực như vốn đầu tư, lao động, tài nguyên, xuất khẩu hay hạ tầng. Nhưng trong thế kỷ XXI, sức mạnh quốc gia không còn được quyết định chủ yếu bởi khả năng khai thác tài nguyên hay tận dụng lao động giá rẻ, mà bởi năng lực tạo ra tri thức mới, công nghệ lõi mới, dữ liệu mới và đội ngũ nhân tài đủ sức làm chủ tương lai.

Không có khoa học cơ bản mạnh thì không thể làm chủ được các công nghệ cao, công nghệ lõi; không có công nghệ lõi, công nghệ cao thì khó có công nghiệp tiên tiến hiện đại, và rất khó nói đến tự chủ chiến lược quốc gia.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức

Theo ông Đức, việc đặt khoa học cơ bản ngang tầm với các động lực tăng trưởng truyền thống cho thấy Việt Nam đang chuyển từ tư duy phát triển dựa vào lợi thế sẵn có sang tư duy phát triển dựa trên tri thức, đổi mới sáng tạo và tự chủ công nghệ.

"Khoa học cơ bản là nền tảng tri thức khoa học - công nghệ của đất nước. Không có khoa học cơ bản mạnh thì không thể làm chủ được các công nghệ cao, công nghệ lõi; không có công nghệ lõi, công nghệ cao thì khó có công nghiệp tiên tiến hiện đại, và rất khó nói đến tự chủ chiến lược quốc gia", nguyên Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Công nghệ nhấn mạnh.

Ông Nguyễn Đình Đức dẫn thực tế, các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, vật liệu mới, công nghệ sinh học, lượng tử hay năng lượng mới đều không xuất hiện từ những dự án ngắn hạn, mà bắt nguồn từ hàng chục năm đầu tư bền bỉ cho nghiên cứu cơ bản.

Vì vậy, đặt khoa học cơ bản ngang tầm với các động lực tăng trưởng truyền thống là đặt nền móng cho một mô hình phát triển mới: mô hình phát triển dựa trên tri thức, con người, dữ liệu, công nghệ và năng lực sáng tạo quốc gia.

"Nếu Việt Nam muốn trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, thì không thể chỉ đi theo công nghệ của người khác. Chúng ta phải có năng lực tạo ra tri thức, hấp thụ tri thức, làm chủ công nghệ và từng bước đóng góp vào tri thức chung của nhân loại", GS Đức nói.

Tháo "điểm nghẽn" cơ chế để khoa học tạo đột phá

Điểm đáng chú ý tại kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước không chỉ nằm ở việc tăng đầu tư cho khoa học, mà là yêu cầu thay đổi toàn bộ tư duy quản trị khoa học. Mục tiêu được đặt ra rất cụ thể là từ nay đến tháng 6/2027 phải tháo gỡ toàn bộ các "điểm nghẽn, nút thắt" của nghiên cứu khoa học cơ bản.

Theo GS Nguyễn Đình Đức, dù những hạn chế về tài chính, nhân lực hay môi trường học thuật đều đáng chú ý, nhưng gốc rễ sâu xa nhất hiện nay nằm ở cơ chế quản trị khoa học và quản trị đại học. "Nghiên cứu cơ bản cần thời gian dài, cần tích lũy tri thức, cần tự do học thuật, cần chấp nhận rủi ro và có những kết quả không thể đo lường ngay bằng sản phẩm thương mại", ông nói.

Nếu vẫn quản lý khoa học bằng tư duy hành chính, bằng thủ tục ngắn hạn, bằng dự toán theo năm, bằng tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm, thì nhà khoa học sẽ bị phân tán năng lượng vào hồ sơ, chứng từ, thanh quyết toán thay vì tập trung vào sáng tạo.

Vậy nên, ông Đức cho rằng, yêu cầu chuyển từ "quản lý hành chính" sang "quản trị sáng tạo", từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm", đồng thời chấp nhận rủi ro khoa học được xem là một trong những thay đổi có tính đột phá nhất.

"Lâu nay, nhiều nhà khoa học không thiếu ý tưởng, không thiếu khát vọng cống hiến, nhưng lại bị ràng buộc bởi quá nhiều thủ tục hành chính, quy trình tiền kiểm và cơ chế đánh giá còn nặng tính hình thức", GS Đức nêu thực tế.

Vị chuyên gia nêu rõ, chuyển từ "quản lý hành chính" sang "quản trị sáng tạo" không có nghĩa là buông lỏng quản lý, mà là quản lý đúng bản chất của hoạt động khoa học hơn.

Nhà khoa học cần được trao quyền tự chủ cao hơn trong sử dụng kinh phí, tổ chức nhóm nghiên cứu, lựa chọn phương pháp, hợp tác quốc tế và theo đuổi các ý tưởng mới. Đổi lại, họ phải chịu trách nhiệm giải trình bằng chất lượng khoa học, liêm chính học thuật, tác động dài hạn và đóng góp cho quốc gia.

Đặc biệt, theo GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, nếu không chấp nhận rủi ro khoa học thì sẽ chỉ có những đề tài an toàn, lặp lại và ít đột phá.

"Nếu mọi việc đều phải xin phép trước, giải trình trước, chứng minh trước, thì khoa học sẽ mất đi tính mạo hiểm và sáng tạo. Nghiên cứu cơ bản luôn có rủi ro. Có những hướng đi ban đầu chưa thấy ngay kết quả, nhưng sau nhiều năm có thể mở ra một lĩnh vực mới", ông nói.

Không chỉ cơ chế quản lý, cách đánh giá thành tựu khoa học cũng được người đứng đầu Đảng và Nhà nước yêu cầu thay đổi căn bản. Theo ông Nguyễn Đình Đức, lâu nay việc đánh giá khoa học đôi khi rơi vào hai cực đoan: hoặc quá coi trọng số lượng công bố, hoặc áp dụng máy móc yêu cầu thương mại hóa đối với mọi nghiên cứu.

Ông cho rằng nghiên cứu cơ bản định hướng tri thức nền phải được đánh giá bằng chiều sâu lý thuyết, đóng góp học thuật, khả năng đào tạo nhân lực tinh hoa và hình thành trường phái khoa học, thay vì chỉ đo bằng sản phẩm thương mại hay số lượng bài báo.

"Tác động lớn nhất là cách đánh giá thành tựu khoa học sẽ phải chuyển từ 'đếm sản phẩm' sang 'đo giá trị'. Giá trị ở đây không chỉ là bài báo hay bằng sáng chế, mà còn là đội ngũ được đào tạo, dữ liệu được tạo lập, phương pháp được phát triển, trường phái được hình thành và năng lực quốc gia được nâng lên", ông Đức nêu quan điểm.

Khoa học xã hội, nhân văn giữ vai trò kiến tạo tương lai

Trong nhiều năm, khi nói đến khoa học cơ bản, người ta thường nghĩ trước hết đến toán học, vật lý, hóa học, công nghệ vật liệu, AI hay bán dẫn - những lĩnh vực tạo nền tảng cho công nghệ lõi và năng lực sản xuất hiện đại. Tuy nhiên, kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lần này cho thấy một cách tiếp cận rộng hơn và có chiều sâu hơn về khoa học cơ bản.

Lần đầu tiên, khoa học xã hội và nhân văn được đặt trong mối quan hệ chiến lược ngang tầm với khoa học tự nhiên và công nghệ; không còn được nhìn như lĩnh vực bổ trợ, mà là nền tảng của năng lực quản trị quốc gia, xây dựng thể chế, phát triển văn hóa, con người và giữ vững ổn định xã hội.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức cho rằng, trong giai đoạn phát triển mới, Việt Nam không chỉ cần công nghệ mạnh, công nghiệp mạnh, hạ tầng mạnh, mà còn cần thể chế mạnh, văn hóa mạnh, con người mạnh và năng lực quản trị quốc gia hiện đại. Đây chính là không gian đóng góp đặc biệt quan trọng của khoa học xã hội và nhân văn.

Nếu khoa học tự nhiên và công nghệ giúp tạo ra năng lực sản xuất, công nghệ lõi, vật liệu mới hay AI, thì khoa học xã hội và nhân văn giúp trả lời những câu hỏi nền tảng như Việt Nam phát triển theo mô hình nào, làm sao phát triển nhanh nhưng vẫn bền vững, hiện đại nhưng vẫn giữ bản sắc?

"Một quốc gia có thể nhập khẩu máy móc, công nghệ, thiết bị, thậm chí học hỏi mô hình quản lý của thế giới, nhưng không thể nhập khẩu nguyên xi một mô hình phát triển phù hợp với dân tộc mình. Mô hình đó phải được nghiên cứu, luận giải, thử nghiệm và hoàn thiện trên cơ sở khoa học xã hội, lịch sử, văn hóa, luật pháp, chính trị học, kinh tế học, giáo dục học và quản trị công", ông Đức đặt vấn đề.

Chung quan điểm, PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội, cho rằng việc đặt khoa học xã hội và nhân văn vào vị trí chiến lược phản ánh một tư duy phát triển mới của Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu đang thay đổi sâu sắc.

"Một quốc gia muốn phát triển nhanh và bền vững không chỉ cần công nghệ hiện đại, mà còn cần nền tảng tư tưởng vững chắc, hệ giá trị bền sâu, mô hình quản trị phù hợp, năng lực dự báo chiến lược và khả năng tổ chức xã hội hiệu quả. Đó chính là không gian đặc biệt của khoa học xã hội và nhân văn", vị đại biểu Quốc hội nói.

Theo ông Sơn, trong giai đoạn cạnh tranh chiến lược hiện nay, cạnh tranh về công nghệ thực chất cũng là cạnh tranh về thể chế, văn hóa, niềm tin, năng lực tổ chức xã hội và khả năng huy động con người. Chính ở đây, khoa học xã hội và nhân văn không đứng bên lề tiến trình hiện đại hóa, mà nằm ở trung tâm của năng lực phát triển.

Khoa học xã hội và nhân văn giúp chúng ta trả lời những câu hỏi căn bản: Việt Nam sẽ phát triển theo mô hình nào? Chúng ta xây dựng con người Việt Nam thời kỳ mới với những phẩm chất gì? Văn hóa Việt Nam cần giữ gì, đổi mới gì, lan tỏa gì trong thời đại số? Làm thế nào để tăng trưởng kinh tế đi cùng tiến bộ, công bằng xã hội và hạnh phúc của nhân dân?

Bản sắc Việt Nam trong môi trường số có thể không tạo ra lợi nhuận tức thì, nhưng lại có ý nghĩa lớn đối với chất lượng hoạch định chính sách, sự ổn định xã hội, sức mạnh tinh thần và năng lực tự chủ của quốc gia.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn

"Những câu hỏi ấy không thể giải quyết bằng thuật toán thuần túy. Chúng đòi hỏi tri thức lịch sử, văn hóa học, xã hội học, nhân học, chính trị học, luật học, kinh tế học, tâm lý học, giáo dục học, triết học, đạo đức học và nhiều ngành khoa học xã hội, nhân văn khác", PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh.

Ông Sơn nêu thực tế, lịch sử phát triển của nhiều quốc gia có thể thấy những bước nhảy vọt về công nghệ luôn gắn với những thay đổi sâu sắc về tư duy quản trị, giáo dục, văn hóa, đạo đức xã hội và cấu trúc thể chế.

Không nền công nghiệp hiện đại nào có thể phát triển bền vững trong môi trường thiếu kỷ luật xã hội, thiếu niềm tin, thiếu chuẩn mực, thiếu tinh thần sáng tạo, thiếu cơ chế bảo vệ tài năng và thiếu năng lực phối hợp giữa Nhà nước, thị trường, nhà khoa học và cộng đồng.

Do đó, theo ông Sơn, khi Việt Nam đặt mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, chúng ta không chỉ cần đầu tư cho trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học, dữ liệu lớn, năng lượng mới, mà còn phải đầu tư mạnh mẽ cho khoa học xã hội và nhân văn để hiểu rõ hơn chính mình, dự báo đúng hơn thế giới, thiết kế tốt hơn chính sách và nuôi dưỡng sâu hơn con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Đây cũng là lý do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu phải có cơ chế riêng phù hợp với khoa học xã hội và nhân văn, thay vì áp dụng máy móc logic thương mại hóa đối với mọi sản phẩm khoa học.

"Một công trình nghiên cứu về mô hình phát triển Việt Nam, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hệ giá trị quốc gia, văn hóa gia đình, niềm tin xã hội, biến đổi cộng đồng, tác động của mạng xã hội đối với thanh thiếu niên, bản sắc Việt Nam trong môi trường số có thể không tạo ra lợi nhuận tức thì, nhưng lại có ý nghĩa lớn đối với chất lượng hoạch định chính sách, sự ổn định xã hội, sức mạnh tinh thần và năng lực tự chủ của quốc gia", ĐBQH Bùi Hoài Sơn nói thêm.

Nhìn rộng hơn, cuộc cạnh tranh lớn nhất của thế kỷ XXI không nằm ở tài nguyên dưới lòng đất, mà nằm ở tri thức trong đầu con người. Muốn đi đường dài trong kỷ nguyên AI và công nghệ lõi, Việt Nam không thể chỉ là nơi lắp ráp công nghệ của thế giới, mà phải trở thành quốc gia có năng lực tạo ra tri thức và công nghệ của chính mình.

Anh Văn

Nguồn VTC: https://vtcnews.vn/gs-nguyen-dinh-duc-khong-the-tu-chu-chien-luoc-quoc-gia-neu-khong-co-khoa-hoc-co-ban-manh-ar1020001.html