Hà Nội ban hành quy định đánh giá, xếp loại đối với cán bộ, công chức, viên chức
Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc vừa ký ban hành Quy định số 11-QĐ/TU, ngày 25-3-2026 của Ban Thường vụ Thành ủy về đánh giá, xếp loại hằng tháng đối với cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng gắn với phương pháp đánh giá, đo lường bằng OKR/KPI trong hệ thống chính trị thành phố Hà Nội.
Quy định này có hiệu lực từ ngày ký.

Hà Nội tiến hành đánh giá, xếp loại hằng tháng đối với cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng gắn với phương pháp đánh giá, đo lường bằng OKR/KPI trong hệ thống chính trị thành phố Hà Nội. Ảnh: PV
Theo đó, quy định yêu cầu phải thực hiện đồng bộ quy trình đánh giá cán bộ, công chức, viên chức từ khâu cơ quan, đơn vị chỉ đạo xây dựng kế hoạch công tác hằng tháng, hằng quý, hằng năm, đảm bảo “6 rõ” (rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền).
Từng cá nhân phải xây dựng kế hoạch công tác hằng tháng và lịch công tác hằng tuần, cập nhật đầy đủ các công việc đột xuất, phát sinh, trình lãnh đạo trực tiếp phê duyệt để tổ chức thực hiện.
Việc đánh giá, xếp loại đối với cán bộ, công chức, viên chức phải thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ, chính xác, khách quan, công bằng, đúng thực chất và đúng trình tự quy định. Phải thực hiện đánh giá đa chiều, liên tục và lượng hóa được kết quả thực hiện nhiệm vụ của từng cán bộ, công chức, viên chức gắn với kết quả công tác của từng bộ phận, cơ quan, đơn vị (trên cơ sở phân tích khối lượng và tính chất, mức độ của công việc).
Ban Thường vụ Thành ủy cũng yêu cầu từng bước xây dựng hồ sơ năng lực số của cán bộ, công chức, viên chức, phục vụ theo dõi quá trình công tác và đánh giá năng lực thực tiễn. Gắn kết chặt chẽ kết quả đánh giá với các khâu của công tác cán bộ, công chức, viên chức, bảo đảm sử dụng thực chất trong quy hoạch, đào tạo, bố trí, sử dụng và sàng lọc cán bộ, công chức, viên chức. Việc thực hiện đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức, viên chức phải phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; thực hiện đồng bộ, thống nhất từ thành phố đến cấp cơ sở.
Ban Thường vụ Thành ủy yêu cầu nguyên tắc đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức, viên chức hằng tháng phải bảo đảm dân chủ, chính xác, khách quan, công khai, công bằng, minh bạch, đúng thẩm quyền, trách nhiệm, trình tự, thủ tục; thực hiện theo hướng xuyên suốt, liên tục, đa chiều, có tiêu chí và thông qua sản phẩm cụ thể.
Cấp nào, người nào trực tiếp lãnh đạo, giao việc, đồng thời thực hiện nhận xét, đánh giá, xếp loại. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị quyết định việc xếp loại, đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo thẩm quyền và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Đồng thời, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, quản trị bằng mục tiêu và kết quả then chốt (OKR), đo lường bằng chỉ số đánh giá hiệu quả công việc (KPI), giám sát bằng dữ liệu thời gian thực phục vụ theo dõi, đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức, viên chức.
Việc đánh giá, xếp loại phải căn cứ vào chức trách, nhiệm vụ được giao và kết quả thực hiện nhiệm vụ về tiến độ, chất lượng, sản phẩm cụ thể; số lượng công việc được giao theo kế hoạch; nhiệm vụ thường xuyên và đột xuất; mức độ khó, phức tạp, yêu cầu trình độ chuyên môn của công việc; ý thức chấp hành kỷ luật, kỷ cương, chấp hành các quy định, quy chế...
Việc đánh giá cần làm rõ ưu điểm, khuyết điểm, tồn tại, hạn chế về phẩm chất, năng lực, trình độ của cán bộ, công chức, viên chức. Việc đánh giá, xếp loại cán bộ lãnh đạo, quản lý phải gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo, quản lý...
Về tiêu chí đánh giá, xếp loại, việc đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức, viên chức căn cứ vào các tiêu chí chung chấm tối đa 30 điểm (trên thang điểm 100) và tiêu chí về kết quả thực hiện nhiệm vụ chấm tối đa 70 điểm (trên thang điểm 100).
Xếp loại hằng tháng đối với cán bộ, công chức, viên chức: Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ (Loại A): Đạt từ 90 điểm đến 100 điểm; hoàn thành tốt nhiệm vụ (Loại B): Đạt từ 70 điểm đến dưới 90 điểm; hoàn thành nhiệm vụ (Loại C): Đạt từ 50 điểm đến dưới 70 điểm; không hoàn thành nhiệm vụ (Loại D): Dưới 50 điểm.
Tỷ lệ xếp loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đối với cán bộ, công chức, viên chức: Tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức xếp loại “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” không vượt quá 20% tổng số cán bộ, công chức, viên chức được xếp loại “Hoàn thành tốt nhiệm vụ” trong phạm vi cùng một cơ quan, tổ chức, đơn vị và trong từng nhóm cán bộ, công chức, viên chức có nhiệm vụ tương đồng.
Trường hợp cơ quan, tổ chức, đơn vị có thành tích xuất sắc, nổi trội, tạo sự chuyển biến tích cực, hoàn thành vượt kế hoạch các công việc được giao, mang lại giá trị, hiệu quả thiết thực thì cấp có thẩm quyền quyết định tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cao hơn quy định tại điểm a khoản này nhưng không vượt quá 25% tổng số cán bộ, công chức, viên chức được xếp loại “Hoàn thành tốt nhiệm vụ”.
Quy định cũng quy định về thẩm quyền đánh giá, xếp loại; phương pháp xác định tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ; đánh giá tiêu chí kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ đối với cán bộ, công chức, viên chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; cách xác định điểm tiêu chí kết quả thực hiện nhiệm vụ...
Đáng chú ý, Ban Thường vụ Thành ủy yêu cầu thống nhất sử dụng đồng bộ phần mềm trong đánh giá, xếp loại hằng tháng đối với cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị của thành phố. Nội dung các bước thực hiện, quản lý, khai thác và sử dụng phần mềm đánh giá hằng tháng đối với cán bộ, công chức, viên chức thực hiện theo hướng dẫn của Thành ủy.
Ban Thường vụ Thành ủy cũng quy định về thu nhập tăng thêm, khen thưởng và sử dụng kết quả đánh giá, xếp loại...












