Hà Nội cần 2,8 triệu tỷ đồng cho đầu tư công giai đoạn 2026-2030
Nhu cầu nguồn lực đầu tư công của Hà Nội giai đoạn 2026-2030 được cập nhật lên khoảng 2,8 triệu tỷ đồng, tăng mạnh sau khi bổ sung định hướng phát triển khoảng 362 km đường sắt đô thị. Riêng năm 2027, nhu cầu vốn dự kiến 523,3 nghìn tỷ đồng, trong khi khả năng cân đối sơ bộ khoảng 404,3 nghìn tỷ đồng.
UBND thành phố Hà Nội phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức Hội nghị “Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026-2030”, trong bối cảnh thành phố đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP năm 2026 và bình quân giai đoạn 2026-2030 từ 11% trở lên.
Tại hội nghị, Giám đốc Sở Tài chính Hà Nội Nguyễn Ngọc Tú cho biết, mục tiêu tăng trưởng hai con số đặt ra yêu cầu không chỉ gia tăng quy mô vốn đầu tư mà còn phải thay đổi cách thức huy động, phân bổ và tổ chức thực hiện. Trong đó, ngân sách nhà nước cần tập trung cho những nhiệm vụ nền tảng, có tính dẫn dắt, qua đó kéo theo tín dụng, vốn doanh nghiệp, FDI và các nguồn lực xã hội.
Bức tranh kinh tế 8 tháng cho thấy Hà Nội đang có nền tảng tương đối tích cực để thực hiện mục tiêu này. Đến ngày 31/8, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 529.377 tỷ đồng, bằng 81,4% dự toán và tăng 10,6% so với cùng kỳ. Tổng chi ngân sách đạt 143.841 tỷ đồng.

Hà Nội cần 2,8 triệu tỷ đồng cho đầu tư công giai đoạn 2026-2030.
Hoạt động đầu tư, kinh doanh cũng ghi nhận nhiều tín hiệu đáng chú ý. Trong 8 tháng, khoảng 24,5 nghìn doanh nghiệp được thành lập mới với 472,3 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký, cùng khoảng 9,1 nghìn doanh nghiệp trở lại hoạt động. Thu hút FDI đạt khoảng 3,75 tỷ USD, tương đương 83,1% mục tiêu cả năm. Đến cuối tháng 8, vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn đạt khoảng 7.844 nghìn tỷ đồng, dư nợ đạt 6.529 nghìn tỷ đồng, cho thấy quy mô nguồn lực tài chính của Thủ đô rất lớn.
Tuy nhiên, quy mô nguồn lực hiện có vẫn đứng trước sức ép rất lớn từ nhu cầu đầu tư phát triển. Theo ông Nguyễn Ngọc Tú, trong quá trình xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn, các đơn vị đề xuất nhu cầu khoảng 1,881 triệu tỷ đồng. Sau khi cập nhật danh mục và bổ sung định hướng phát triển khoảng 362 km đường sắt đô thị trong giai đoạn 2026-2030, tổng nhu cầu đã tăng lên khoảng 2,8 triệu tỷ đồng.
Không thể chỉ trông vào ngân sách
Áp lực nguồn vốn thể hiện rõ ngay trong năm 2027. Thành phố dự kiến cần khoảng 523,3 nghìn tỷ đồng vốn đầu tư công, trong khi khả năng cân đối sơ bộ khoảng 404,3 nghìn tỷ đồng. Như vậy, chênh lệch giữa nhu cầu và khả năng cân đối lên tới khoảng 119 nghìn tỷ đồng.
Trong cơ cấu nguồn dự kiến, vốn huy động khoảng 128 nghìn tỷ đồng, chủ yếu từ nguồn trong nước. Cùng với đó, thu tiền sử dụng đất năm 2026 ước đạt 145.635 tỷ đồng. Theo định hướng của thành phố, nguồn thu từ đất cần được khai thác bền vững, gắn với quy hoạch, phát triển đô thị, mô hình TOD và tái đầu tư hạ tầng.

Giám đốc Sở Tài chính Hà Nội Nguyễn Ngọc Tú.
Đáng chú ý, nếu tính trên phạm vi toàn nền kinh tế, tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2026-2030 cần khoảng 5 triệu tỷ đồng. Khoảng cách giữa nguồn vốn công và tổng nhu cầu đầu tư cho thấy khu vực tư nhân, hệ thống ngân hàng, thị trường vốn và các hình thức hợp tác công - tư sẽ phải đóng vai trò lớn hơn trong giai đoạn tới.
Theo ông Nguyễn Ngọc Tú, ngân sách nhà nước chỉ có thể đáp ứng một phần nhu cầu. Thành phố sẽ phải kết nối đồng bộ nhiều nguồn vốn gồm ngân sách, tín dụng, trái phiếu, vốn chủ sở hữu doanh nghiệp, PPP, ODA, FDI, đất đai, tài sản công và các công cụ tài chính xanh. Đi cùng với huy động vốn là yêu cầu bảo đảm an toàn nợ, hiệu quả đầu tư và khả năng hoàn trả.
Cách tiếp cận này cũng đặt ra yêu cầu lựa chọn dự án chặt chẽ hơn. Thành phố dự kiến phân loại rõ những dự án Nhà nước phải đầu tư, dự án phù hợp với PPP, dự án có khả năng hoàn vốn hoặc có thể khai thác giá trị gia tăng từ đất đai và hạ tầng. Với đường sắt đô thị, đầu tư giao thông sẽ không chỉ dừng ở xây dựng tuyến mà phải gắn với chỉnh trang, tái thiết đô thị, phát triển thương mại, dịch vụ quanh các đầu mối giao thông.
Đây chính là dư địa quan trọng của TOD: biến hạ tầng giao thông thành động lực tạo lập giá trị mới cho đô thị, từ đó hình thành nguồn lực quay trở lại phục vụ đầu tư hạ tầng. Nếu làm tốt, vốn đầu tư công có thể chuyển từ vai trò “nguồn tiền chính” sang “vốn mồi”, dẫn dắt dòng vốn xã hội.
Ngân hàng đồng hành, doanh nghiệp phải nâng năng lực hấp thụ vốn
Một trong những vấn đề được đặt ra tại hội nghị là làm thế nào để nguồn vốn lớn thực sự đi vào nền kinh tế. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Phạm Đức Ấn cho biết, dư nợ tín dụng toàn hệ thống 8 tháng năm 2026 tăng 9,91% so với cuối năm 2025, trong đó trên 77% dư nợ phục vụ sản xuất, kinh doanh. Tại Hà Nội, tín dụng tăng trên 13%, cao hơn mức bình quân toàn hệ thống.
Tuy nhiên, theo Thống đốc, không thể kỳ vọng ngân hàng trở thành nguồn vốn duy nhất cho các dự án lớn. Những dự án hạ tầng quy mô lớn cần được cấu trúc bằng nhiều nguồn vốn, trong đó có ngân sách địa phương, thị trường vốn, trái phiếu doanh nghiệp và PPP.
Điều này cũng đồng nghĩa với việc bài toán khơi thông nguồn lực không chỉ nằm ở phía ngân hàng. Khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp còn phụ thuộc vào hồ sơ pháp lý, quy hoạch, thủ tục đầu tư, đất đai, giải phóng mặt bằng, phương án tài chính, vốn chủ sở hữu và chất lượng dòng tiền.
Thống đốc Phạm Đức Ấn nhấn mạnh yêu cầu nâng cao tính minh bạch tài chính, chuẩn hóa dữ liệu và dòng tiền doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp có phương án kinh doanh khả thi, hoạt động minh bạch và dòng tiền rõ ràng, ngân hàng có cơ sở chuyển dần từ phương thức cho vay phụ thuộc nhiều vào tài sản thế chấp sang đánh giá nhiều hơn dựa trên hiệu quả dự án.
Về phía hệ thống tín dụng, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng tiếp tục tiết giảm chi phí, công khai và minh bạch lãi suất, điều kiện tín dụng, tạo dư địa giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp và người dân.
Nhìn rộng hơn, với mục tiêu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên và nhu cầu khoảng 5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm tới, Hà Nội đang đứng trước một bài toán không chỉ về “có bao nhiêu tiền” mà quan trọng hơn là huy động tiền từ đâu, phân bổ vào đâu và làm thế nào để dòng vốn tạo ra năng lực sản xuất mới.
