Hà Nội nâng tầm đổi mới sáng tạo, hướng tới vị thế khu vực và mục tiêu top 40 thế giới

Với nền tảng đổi mới sáng tạo của Việt Nam đang được cải thiện nhưng vẫn còn những điểm nghẽn về nhân lực, nghiên cứu và liên kết doanh nghiệp, Hà Nội đặt mục tiêu trở thành trung tâm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hàng đầu cả nước, từng bước vươn lên nhóm dẫn đầu Đông Nam Á và 40 thế giới vào năm 2030.

Kết quả Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) 2026 cho thấy Việt Nam xếp thứ 43 trong 139 quốc gia, nền kinh tế, tăng 1 bậc so với năm 2025. Đây là bước tiến tiếp nối quá trình cải thiện 16 bậc kể từ năm 2016, khi Việt Nam đứng thứ 59. Đầu ra đổi mới sáng tạo tăng 2 bậc, từ vị trí 37 lên 35, góp phần đưa thứ hạng chung của Việt Nam tăng 1 bậc. Việt Nam đứng thứ 3 ASEAN, sau Singapore và Malaysia.

Trong bối cảnh đó, Hà Nội đang cụ thể hóa yêu cầu nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo bằng Kế hoạch số 370/KH-UBND ngày 28/9/2026 về tổng thể khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 5 năm giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn thành phố. Kế hoạch do Phó Chủ tịch UBND thành phố Trương Việt Dũng ký ban hành, xác định mục tiêu xây dựng Hà Nội trở thành trung tâm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hàng đầu cả nước, tiến tới nhóm dẫn đầu khu vực Đông Nam Á.

Những mục tiêu đổi mới sáng tạo được lượng hóa bằng các con số

Điểm đáng chú ý trong Kế hoạch 370/KH-UBND là Hà Nội không chỉ đặt mục tiêu về vị trí, mà lượng hóa khá cụ thể các yêu cầu về nguồn lực, nghiên cứu, doanh nghiệp và đầu ra đổi mới sáng tạo. Thành phố hướng tới phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo mở, hội nhập; hình thành chuỗi năng lực “nghiên cứu - làm chủ - chuyển giao - thương mại hóa” công nghệ chiến lược; xây dựng đội ngũ doanh nghiệp công nghệ vươn tầm toàn cầu, góp phần kiến tạo năng lực tự chủ công nghệ quốc gia và giữ vai trò dẫn dắt Vùng Thủ đô.

Theo kế hoạch, đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 57%; tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trong tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu đạt tối thiểu 50%. Tổng đầu tư xã hội cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt tối thiểu 2% GRDP, trong đó nguồn ngoài ngân sách nhà nước chiếm trên 60%. Riêng năm 2026, Hà Nội bố trí 4% tổng chi cân đối ngân sách địa phương cho lĩnh vực này và tiếp tục ưu tiên nguồn lực trong các năm tiếp theo.

Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (Global Innovation Index-GII) năm 2026.

Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (Global Innovation Index-GII) năm 2026.

Định hướng tăng đầu tư cho R&D cũng phù hợp với một trong những yếu tố được Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) và Bộ Khoa học và Công nghệ nhấn mạnh trong quá trình cải thiện năng lực đổi mới sáng tạo. Theo GII 2026, sự gia tăng nguồn lực đầu tư cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một trong những yếu tố góp phần thúc đẩy đầu ra đổi mới sáng tạo của Việt Nam. WIPO đồng thời cho thấy Việt Nam đang có thế mạnh rõ ở sản xuất, xuất khẩu công nghệ cao, nhưng vẫn cần mở rộng năng lực nghiên cứu, tạo tri thức và liên kết khoa học - công nghiệp để tiến sâu hơn trên bảng xếp hạng.

Ở cấp độ nhân lực, Hà Nội đặt mục tiêu có 14 người làm nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trên 10.000 dân; tỷ lệ lực lượng lao động trí thức trong các ngành công nghiệp công nghệ cao và công nghiệp chiến lược đạt tối thiểu 25%. Thành phố cũng đặt mục tiêu thu hút trên 200 chuyên gia, nhà khoa học là người Việt Nam ở nước ngoài tham gia hợp tác nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao công nghệ.

Đây là hướng đi có liên hệ trực tiếp với những điểm nghẽn được phản ánh trong GII 2026. Theo dữ liệu WIPO, chỉ số về nguồn nhân lực, nghiên cứu và nền tảng tri thức vẫn là những lĩnh vực cần được củng cố; riêng chi cho giáo dục tính theo GDP của Việt Nam đứng thứ 112, bài báo khoa học quốc tế trên tỷ PPP GDP đứng thứ 106 và lao động có kiến thức trong khu vực doanh nghiệp đứng thứ 85.

Từ thực tế đó, Hà Nội đặt mục tiêu có 8-10 tổ chức khoa học và công nghệ được xếp hạng khu vực và thế giới; 3-5 tổ chức R&D công lập thuộc thành phố trở thành tổ chức xuất sắc. Công bố khoa học quốc tế tăng bình quân 10%/năm; đơn đăng ký sáng chế và văn bằng bảo hộ sáng chế tăng bình quân 16-18%/năm; tỷ lệ sáng chế được khai thác thương mại hóa đạt 8-10% tổng số văn bằng bảo hộ được cấp.

Các chỉ tiêu này cũng hướng vào khoảng cách giữa năng lực sản xuất, xuất khẩu công nghệ cao với năng lực tạo ra tri thức và sáng chế trong nước. GII 2026 xếp Việt Nam thứ 35 về đầu ra đổi mới sáng tạo; WIPO nhận định Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong các mạng lưới sản xuất và thương mại công nghệ cao, song giai đoạn tiếp theo đòi hỏi mở rộng nghiên cứu trong nước, sáng chế và tạo tri thức.

Theo số liệu GII 2026 được công bố, đơn đăng ký sáng chế theo nước xuất xứ của Việt Nam tăng 3 bậc, lên 63; sản lượng công nghệ cao tăng 1 bậc, lên 25; mức độ phức tạp sản xuất và xuất khẩu tăng 8 bậc, lên 44; đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp theo nước xuất xứ tăng 3 bậc, lên 48. Những kết quả này cho thấy nền tảng sản xuất và đổi mới sáng tạo đang có chuyển biến, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu nâng tỷ lệ kết quả nghiên cứu được chuyển thành sản phẩm, công nghệ và giá trị kinh tế.

AI, bán dẫn và công nghệ lõi trở thành trọng tâm

Từ yêu cầu chuyển đổi năng lực nghiên cứu thành kết quả kinh tế, Hà Nội xác định nhóm công nghệ chiến lược là một trọng tâm của giai đoạn 2026-2030. Thành phố ưu tiên công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, bản sao số, điện toán đám mây, Internet vạn vật (IoT), chuỗi khối, 5G/6G, robot, bán dẫn, an ninh mạng, sinh học - y sinh và công nghệ đường sắt đô thị.

Hà Nội phấn đấu thuộc nhóm 5 tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước về nghiên cứu, phát triển AI. Thành phố đặt mục tiêu tỷ lệ kết quả nghiên cứu từ các viện, trường được chuyển giao thành công cho doanh nghiệp và thương mại hóa tối thiểu 30%. Đồng thời, Hà Nội sẽ thúc đẩy hợp tác đầu tư các trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm trọng điểm; phối hợp với các bộ, ngành Trung ương xây dựng hệ thống trung tâm dữ liệu AI và Trung tâm tính toán thông minh phục vụ nghiên cứu, mô phỏng và huấn luyện mô hình AI.

Giai đoạn 2026-2030, Hà Nội ưu tiên phát triển các công nghệ lõi gồm công nghệ số, AI, dữ liệu lớn (Ảnh minh họa).

Giai đoạn 2026-2030, Hà Nội ưu tiên phát triển các công nghệ lõi gồm công nghệ số, AI, dữ liệu lớn (Ảnh minh họa).

Định hướng này đặt trong xu thế đổi mới sáng tạo đang chuyển mạnh từ nghiên cứu đơn thuần sang khả năng tạo ra sản phẩm, doanh nghiệp và giá trị mới. WIPO trong GII 2026 cũng nhấn mạnh yêu cầu kết nối năng lực trong nước với thị trường thông qua chuỗi giá trị, thương mại công nghệ cao, sở hữu trí tuệ và hoạt động khởi nghiệp.

Hà Nội sẽ tiếp tục khai thác Khu Công nghệ cao Hòa Lạc; đẩy nhanh Khu Công nghệ cao sinh học Hà Nội; đưa Khu Công viên công nghệ phần mềm Hà Nội vào hoạt động và xây dựng một số công viên chuyên đề công nghệ số.

Trong khi đó, kết quả GII 2026 cho thấy Việt Nam đang có những lợi thế đáng kể về sản xuất và thương mại công nghệ cao. Việt Nam đứng đầu thế giới về tỷ trọng xuất khẩu công nghệ cao và tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa sáng tạo; đứng thứ 3 về tỷ trọng nhập khẩu công nghệ cao; thứ 5 về số lượt tải ứng dụng điện thoại di động và thứ 6 về tốc độ tăng năng suất lao động.

Những lợi thế này tạo cơ sở để Hà Nội đặt mục tiêu tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao đạt tối thiểu 50%, đồng thời đưa chỉ số hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo vào nhóm dẫn đầu cả nước. Thành phố hướng tới tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo trên 50%; hình thành 10 trung tâm đổi mới sáng tạo; có 1-2 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo đạt định giá từ 1 tỷ USD trở lên và phát triển 3-5 doanh nghiệp công nghệ quy mô khu vực trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược.

Kết nối “5 nhà”, đưa đổi mới sáng tạo vào giải quyết bài toán đô thị

Nếu đầu tư cho R&D, nhân lực và công nghệ lõi là điều kiện cần, thì khả năng kết nối các chủ thể để đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống là một trong những điều kiện quyết định hiệu quả của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

GII 2026 cho thấy sự tham gia của Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học là một trong những yếu tố quan trọng góp phần hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. WIPO cũng chỉ ra rằng để tiến xa hơn, Việt Nam cần tăng cường năng lực nghiên cứu, tạo tri thức và các liên kết khoa học - công nghiệp.

Đây cũng là lý do Hà Nội thúc đẩy mô hình “5 nhà”: Nhà nước - Nhà khoa học - Nhà doanh nghiệp - Nhà đầu tư - Nhà băng. Thành phố sẽ thu hút các tập đoàn công nghệ đa quốc gia lập trung tâm R&D tại Hà Nội; mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực AI, lượng tử, bán dẫn, sinh học; hỗ trợ doanh nghiệp bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở nước ngoài.

Việc nâng vai trò của doanh nghiệp trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo cũng là yêu cầu được đặt ra từ thực tế GII. Theo đánh giá trong báo cáo, doanh nghiệp cần đầu tư mạnh hơn cả về tài chính và con người cho R&D và đổi mới sáng tạo, đồng thời đưa công nghệ và chuyển đổi số vào sản xuất, kinh doanh để nâng chất lượng, giá trị và năng suất lao động.

Bên cạnh đó, Hà Nội hướng việc ứng dụng KHCN&ĐMST trực tiếp vào quản trị đô thị hiện đại, phát triển công nghiệp văn hóa và bảo tồn các giá trị văn hiến. Các sáng kiến đổi mới sáng tạo sẽ được nhân rộng để giải quyết những vấn đề như già hóa dân số, y tế cộng đồng, giáo dục, giảm nghèo bền vững và bảo vệ môi trường. Thành phố đồng thời chú trọng đào tạo nhân lực công nghệ cao, thu hút tài năng đặc biệt và đẩy mạnh truyền thông trên các nền tảng số.

Ở cấp quốc gia, Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đặt mục tiêu đưa Việt Nam vào nhóm 40 quốc gia hàng đầu thế giới về GII vào năm 2030. Nghị quyết 57-NQ/TW đặt tầm nhìn đến năm 2045 Việt Nam thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo. Để hiện thực hóa các mục tiêu này, các nhiệm vụ được đặt ra gồm hoàn thiện thể chế, tăng đầu tư R&D, thu hút các tập đoàn và công ty lớn nước ngoài thành lập trung tâm R&D, mở rộng đầu tư vào công nghệ cao và công nghệ chiến lược, nâng cao chất lượng nhân lực và năng lực nghiên cứu, tăng hợp tác giữa viện - trường - doanh nghiệp, thu hút vốn cho startup công nghệ, phát triển các cụm và liên kết đổi mới sáng tạo, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp tiếp nhận, hấp thụ và làm chủ công nghệ.

Trong bức tranh chung đó, Kế hoạch 370/KH-UBND của Hà Nội có thể được nhìn nhận như một bước cụ thể hóa ở cấp đô thị đối với yêu cầu nâng chất lượng đổi mới sáng tạo. Từ vị trí thứ 43/139 của Việt Nam trong GII 2026, mục tiêu của Hà Nội không dừng ở việc cải thiện thứ hạng, mà tập trung vào các yếu tố tạo nên năng lực đổi mới sáng tạo dài hạn: nguồn lực R&D, nhân lực chất lượng cao, công nghệ chiến lược, sáng chế, doanh nghiệp công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và liên kết giữa các chủ thể.

GII 2026 cho thấy đầu ra đổi mới sáng tạo của Việt Nam đã có chuyển biến tích cực, nhưng mục tiêu tiến vào nhóm 40 thế giới vào năm 2030 và nhóm 30 vào năm 2045 đòi hỏi sự cải thiện đồng thời về nhân lực, nghiên cứu, hiệu quả đầu tư và vai trò của doanh nghiệp. Với Hà Nội, việc đặt KHCN&ĐMST vào trung tâm chiến lược tăng trưởng giai đoạn 2026-2030 chính là hướng tới xây dựng những năng lực đó ở cấp thành phố, qua đó nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh, đồng thời từng bước tiến tới nhóm dẫn đầu Đông Nam Á.

Hậu Thạch

Nguồn Điện tử & Ứng dụng: https://dientuungdung.vn/ha-noi-nang-tam-doi-moi-sang-tao-huong-toi-vi-the-khu-vuc-va-muc-tieu-top-40-the-gioi-18573.html