Hạ tầng ĐBSCL: Đầu tư để phục vụ ai?

Hạ tầng đồng bằng sông Cửu Long - nơi được xem là vựa lúa, vựa thủy sản và vựa trái cây lớn nhất của Việt Nam - đang được đầu tư lớn nhất từ trước đến nay nhưng sự đầu tư đó hỗ trợ ra sao cho ba trụ cột phát triển kinh tế nơi đây cũng như hiệu quả kinh tế từ đầu tư sẽ được đánh giá như thế nào?

Ảnh: H.P

Ảnh: H.P

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang được đầu tư mạnh mẽ vào hệ thống hạ tầng với hàng loạt công trình quy mô lớn như các tuyến đường cao tốc Bắc - Nam phía Đông, Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng, Cao Lãnh - An Hữu, Mỹ An - Cao Lãnh, các cảng biển nước sâu, hệ thống logistics, thủy lợi kiểm soát mặn, hồ chứa nước ngọt và các công trình phòng chống sạt lở. Đây là đợt đầu tư hạ tầng lớn nhất từ trước đến nay dành cho vùng đất được xem là vựa lúa, vựa thủy sản và vựa trái cây của Việt Nam.

Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là: liệu những đầu tư đó sẽ hỗ trợ thế nào cho ba trụ cột sản xuất chính của ĐBSCL mà Nghị quyết 120/NQ-CP đã xác định là lúa gạo, thủy sản và cây ăn trái? Xa hơn nữa, hiệu quả kinh tế của các khoản đầu tư này sẽ được đánh giá như thế nào đối với sự phát triển của vùng và nền kinh tế quốc gia?

Ba trụ cột kinh tế của ĐBSCL đang thay đổi

Trong nhiều thập niên, ĐBSCL được biết đến chủ yếu với vai trò là vùng sản xuất lúa gạo lớn nhất cả nước. Hằng năm, vùng đóng góp trên 50% sản lượng lúa quốc gia và hơn 90% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam. Tổng sản lượng lúa dao động từ 24-25 triệu tấn mỗi năm trên diện tích gieo trồng khoảng 4 triệu héc ta.

Tuy nhiên, cơ cấu kinh tế nông nghiệp của vùng hiện nay đã thay đổi đáng kể. Nếu xét theo giá trị sản xuất, thủy sản đã vượt lên trở thành ngành hàng có đóng góp lớn nhất, chiếm khoảng 40-45% giá trị kinh tế nông nghiệp của toàn vùng. Cây ăn trái và rau màu đóng góp khoảng 30-35%, trong khi lúa gạo chỉ còn chiếm khoảng 20-25% mặc dù vẫn sử dụng tới khoảng 70-75% diện tích đất sản xuất.

Điều này phản ánh một thực tế quan trọng: diện tích sản xuất lúa gạo không còn tỷ lệ thuận với giá trị kinh tế tạo ra. Một héc ta lúa ba vụ hiện chỉ tạo ra khoảng 60-120 triệu đồng/năm, trong khi một héc ta cây ăn trái có thể đạt mức 200-800 triệu đồng, còn nuôi tôm hoặc cá tra có thể đạt từ vài trăm triệu đến hàng tỉ đồng mỗi năm.

Sự thay đổi này chính là nền tảng để Nghị quyết 120/NQ-CP đưa ra định hướng phát triển mới cho ĐBSCL theo thứ tự ưu tiên “thủy sản - cây ăn trái - lúa gạo”, thay cho tư duy trước đây đặt mục tiêu tối đa hóa sản lượng lúa.

Hạ tầng giao thông sẽ tác động như thế nào?

Trong số các công trình đang được đầu tư, hệ thống đường cao tốc được kỳ vọng tạo ra tác động sâu rộng nhất đối với nền kinh tế vùng.

Đối với lúa gạo, giao thông thuận lợi giúp giảm chi phí vận chuyển vật tư đầu vào và vận chuyển lúa sau thu hoạch đến các nhà máy chế biến, kho chứa và cảng xuất khẩu. Tuy nhiên, do giá trị trên một đơn vị sản phẩm lúa tương đối thấp nên lợi ích kinh tế mang lại từ việc giảm chi phí logistics cũng có giới hạn nhất định.

Ngược lại, đối với thủy sản và trái cây, giao thông tốc độ cao có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây là những sản phẩm có giá trị cao nhưng rất nhạy cảm với thời gian vận chuyển. Chỉ cần giảm vài giờ vận chuyển có thể giúp giảm hao hụt chất lượng, kéo dài thời gian bảo quản và tăng giá bán sản phẩm.

Ví dụ, trái sầu riêng từ các tỉnh Đồng Tháp, Vĩnh Long hoặc Cần Thơ khi được vận chuyển nhanh hơn đến các trung tâm đóng gói và cửa khẩu xuất khẩu sẽ giảm đáng kể tỷ lệ hao hụt. Tương tự, tôm và cá tra khi được vận chuyển nhanh đến các nhà máy chế biến sẽ giữ được chất lượng tốt hơn, từ đó nâng cao giá trị xuất khẩu.

Vì vậy, xét về hiệu quả kinh tế trực tiếp, đầu tư giao thông thường tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn cho ngành thủy sản và cây ăn trái so với ngành lúa gạo.

Thủy lợi cần thay đổi tư duy đầu tư

Trong nhiều năm qua, phần lớn đầu tư thủy lợi của ĐBSCL tập trung vào mục tiêu ngăn lũ, kiểm soát mặn và bảo vệ sản xuất lúa ba vụ.

Cách tiếp cận này đã góp phần đưa sản lượng lúa của vùng tăng mạnh. Tuy nhiên, nó cũng tạo ra nhiều hệ quả như làm giảm lượng phù sa vào đồng ruộng, suy giảm nguồn lợi thủy sản tự nhiên, gia tăng sử dụng phân bón hóa học và làm mất dần tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái đất ngập nước.

Ngày nay, biến đổi khí hậu đang đặt ra yêu cầu phải thay đổi tư duy đầu tư thủy lợi. Thay vì chỉ tập trung kiểm soát nước để sản xuất lúa, hệ thống thủy lợi cần được thiết kế linh hoạt hơn nhằm phục vụ nhiều mục tiêu sản xuất khác nhau.

Ở các vùng ven biển, việc chủ động điều tiết nước mặn và nước ngọt có thể hỗ trợ phát triển mô hình tôm - lúa hoặc tôm - rừng, những mô hình đang mang lại hiệu quả kinh tế cao và thích ứng tốt với biến đổi khí hậu.

Ở các vùng chuyên canh cây ăn trái, hệ thống thủy lợi cần ưu tiên bảo đảm nguồn nước ngọt ổn định trong mùa khô và giảm thiểu rủi ro do xâm nhập mặn.

Nói cách khác, thủy lợi trong giai đoạn mới không chỉ phục vụ sản xuất lúa mà phải phục vụ toàn bộ cơ cấu kinh tế nông nghiệp của vùng.

Logistics và chế biến sâu mới là “nút thắt” lớn nhất

Mặc dù giao thông đang được cải thiện nhanh chóng, nhưng điểm nghẽn lớn nhất của ĐBSCL hiện nay vẫn là logistics và chế biến sau thu hoạch.

Phần lớn trái cây xuất khẩu của vùng vẫn được vận chuyển lên TPHCM để đóng gói hoặc xuất khẩu. Chi phí logistics của nhiều mặt hàng nông sản vẫn cao hơn đáng kể so với các quốc gia cạnh tranh trong khu vực.

Đối với thủy sản, nhiều doanh nghiệp phải đầu tư hệ thống kho lạnh riêng với chi phí rất lớn. Trong khi đó, năng lực logistics lạnh của toàn vùng vẫn chưa đáp ứng được tốc độ tăng trưởng của ngành.

Nếu chỉ đầu tư đường cao tốc mà không phát triển đồng bộ hệ thống logistics, kho lạnh, trung tâm phân phối và chế biến sâu thì hiệu quả của các công trình giao thông sẽ bị hạn chế đáng kể.

Trong nhiều trường hợp, một trung tâm logistics hiện đại có thể tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn nhiều so với một đoạn đường mới nếu nó giúp giảm tổn thất sau thu hoạch và nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu.

Đầu tư công phải gắn với hiệu quả kinh tế

Một câu hỏi quan trọng đặt ra là liệu tất cả các khoản đầu tư hạ tầng đều mang lại hiệu quả như nhau cho các ngành sản xuất của ĐBSCL? Câu trả lời là KHÔNG.

Mỗi loại hạ tầng sẽ mang lại lợi ích khác nhau đối với từng ngành hàng. Một công trình thủy lợi có thể rất quan trọng đối với sản xuất lúa nhưng ít tác động đến xuất khẩu trái cây. Ngược lại, một trung tâm logistics hoặc cảng biển hiện đại có thể tạo ra lợi ích rất lớn cho ngành thủy sản và trái cây. Do đó, việc lựa chọn danh mục đầu tư trong tương lai cần dựa trên đánh giá chi phí - lợi ích cụ thể thay vì chỉ dựa vào quy mô công trình hay số vốn đầu tư.

Trong bối cảnh nguồn lực ngân sách còn hạn chế, việc ưu tiên các công trình có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao nhất cho nền kinh tế sẽ giúp tối ưu hóa hiệu quả đầu tư công.

Hướng tới một ĐBSCL có giá trị cao hơn

Nghị quyết 120/NQ-CP đã mở ra một cách tiếp cận mới cho phát triển ĐBSCL, trong đó trọng tâm không phải là sản xuất nhiều hơn mà là sản xuất hiệu quả hơn.

Điều này đồng nghĩa với việc các công trình hạ tầng trong tương lai cần được thiết kế để phục vụ mục tiêu nâng cao giá trị gia tăng, giảm chi phí sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh và thích ứng với biến đổi khí hậu.

ĐBSCL không chỉ cần đường cao tốc, mà còn cần trung tâm logistics hiện đại, hệ thống kho lạnh quy mô lớn, công nghệ chế biến sâu, hạ tầng số và các trung tâm nghiên cứu đổi mới sáng tạo phục vụ nông nghiệp.

Nếu được đầu tư đúng hướng, các công trình hạ tầng sẽ trở thành động lực thúc đẩy quá trình chuyển đổi kinh tế của vùng từ “sản xuất số lượng” sang “sản xuất giá trị”.

Tóm lại, ĐBSCL đang bước vào giai đoạn phát triển mới với nguồn vốn đầu tư hạ tầng lớn chưa từng có. Tuy nhiên, thành công của các khoản đầu tư này không nên được đo bằng số ki lô mét đường cao tốc hay số lượng công trình được xây dựng, mà phải được đánh giá bằng mức độ đóng góp của chúng vào sự phát triển của ba trụ cột kinh tế đã thay đổi là thủy sản, cây ăn trái và lúa gạo.

Mỗi công trình hạ tầng cần được xem xét trong mối liên hệ với giá trị kinh tế mà nó tạo ra cho người dân, doanh nghiệp và toàn vùng. Nguồn lực của nhà nước khi đầu tư vào đâu thì cũng phải tính đến hiệu quả kinh tế mà nó mang lại cho vùng miền đó và xa hơn là cho nền kinh tế của cả nước.

TS. Dương Văn Ni

Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/ha-tang-dbscl-dau-tu-de-phuc-vu-ai/