Hạ tầng lớn đang làm thay đổi không gian kinh tế
Hạ tầng lớn đang được đầu tư đồng bộ, từ đường bộ, đường sắt đến cầu và các công trình đô thị, không chỉ mở rộng khả năng kết nối mà còn kéo theo sự dịch chuyển của dòng vốn, dân cư và hoạt động kinh tế, tạo thêm những không gian phát triển mới.
Việt Nam đang bước vào một giai đoạn đầu tư hạ tầng với quy mô lớn, khi hàng loạt dự án đường bộ, đường sắt, hàng không, cảng biển và hạ tầng đô thị được triển khai đồng thời trên nhiều vùng kinh tế.
Theo báo cáo của Cục Đường bộ Việt Nam, mạng lưới cao tốc cả nước đến giữa năm 2026 đã có khoảng 3.345km được đưa vào khai thác, trong đó tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông dài khoảng 2.063km đã có 36/39 đoạn tuyến với tổng chiều dài khoảng 1.914km được đưa vào khai thác, bao gồm cả khai thác tạm.
Những tuyến đường mới đang từng bước hình thành một mạng lưới kết nối xuyên suốt Bắc - Nam, thay đổi đáng kể khả năng tiếp cận giữa các trung tâm kinh tế, các khu công nghiệp, cảng biển và cửa ngõ giao thương.

Quy mô đầu tư còn được đẩy lên một nấc mới với các dự án đường sắt. Đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam được nghiên cứu đầu tư trên toàn tuyến dài khoảng 1.541km, tốc độ thiết kế 350km/h, gồm 23 ga hành khách và 5 ga hàng hóa, với tổng mức đầu tư sơ bộ hơn 1,7 triệu tỷ đồng, tương đương 67,34 tỷ USD. Dự án đang được chuẩn bị để phấn đấu khởi công trong giai đoạn 2026 - 2028 và cơ bản hoàn thành vào năm 2035.
Cùng với đó, tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng dài gần 391km tuyến chính, kết nối khu vực biên giới phía Bắc với Hà Nội và cảng Lạch Huyện, có tổng mức đầu tư khoảng 203.231 tỷ đồng, tương đương 8,37 tỷ USD, dự kiến hoàn thành chậm nhất vào năm 2030.
Khi đi vào vận hành, tuyến đường sắt này sẽ tạo thêm một trục vận tải hàng hóa và hành khách kết nối trực tiếp giữa vùng Tây Bắc, Thủ đô và cửa ngõ cảng biển phía Bắc.
Ở lĩnh vực hàng không, Cảng hàng không quốc tế Long Thành đang bước vào giai đoạn hoàn thiện để đưa vào khai thác. Riêng giai đoạn 1 có công suất 25 triệu hành khách và 1,2 triệu tấn hàng hóa mỗi năm, với tổng mức đầu tư được điều chỉnh khoảng 109.717 tỷ đồng.
Khi hoàn thành toàn bộ các giai đoạn, sân bay được quy hoạch đạt công suất tới 100 triệu hành khách và 5 triệu tấn hàng hóa mỗi năm, tạo thêm một cực kết nối quốc tế cho vùng Đông Nam Bộ.
Ở các vùng kinh tế trọng điểm, những tuyến vành đai cũng đang được triển khai để mở rộng không gian liên kết thay vì chỉ tập trung vào khu vực lõi đô thị.
Vành đai 4 - Vùng Thủ đô dài khoảng 112,8km, tổng mức đầu tư sơ bộ 85.813 tỷ đồng, kết nối Hà Nội với Hưng Yên và Bắc Ninh.
Trong khi đó, Vành đai 3 Tp.HCM dài 76,34km, tổng mức đầu tư giai đoạn 1 khoảng 75.378 tỷ đồng, tạo trục liên kết giữa Tp.HCM và các địa phương trong vùng Đông Nam Bộ.
Không gian logistics cũng đang được mở rộng với những dự án có quy mô lớn. Tại Tp.HCM, Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ có diện tích khoảng 571ha, công suất dự kiến 4,8 triệu TEU vào năm 2030 và 16,9 triệu TEU vào năm 2047, với tổng chiều dài cầu cảng chính khoảng 7,5km.
Trong khi đó, quy hoạch hệ thống cảng biển đến năm 2030 dự kiến nhu cầu vốn đầu tư khoảng 581.000 tỷ đồng, cho thấy hạ tầng hàng hải cũng đang được đặt trong một chiến lược mở rộng năng lực kết nối và logistics trên quy mô quốc gia.
Những con số trên cho thấy hạ tầng đang không còn được đầu tư theo từng công trình đơn lẻ. Từ các tuyến cao tốc xuyên vùng, đường sắt tốc độ cao, sân bay, cảng biển đến các tuyến vành đai đô thị, một mạng lưới kết nối mới đang từng bước hình thành.
Khi khoảng cách về thời gian và chi phí vận chuyển được rút ngắn, tác động của những công trình này có thể vượt xa phạm vi địa lý nơi dự án được xây dựng, mở ra khả năng dịch chuyển của dòng vốn, dân cư, việc làm và các hoạt động sản xuất, dịch vụ.
Chính sự thay đổi về khả năng kết nối đang đặt ra một câu hỏi lớn hơn: khi hạ tầng được mở rộng trên quy mô chưa từng có, những không gian kinh tế nào sẽ được hình thành và nguồn lực sẽ được phân bổ lại ra sao?

Trong nhiều năm, sự phát triển kinh tế thường tập trung tại những khu vực có lợi thế về vị trí, giao thông và khả năng tiếp cận thị trường. Điều này tạo ra những cực tăng trưởng mạnh nhưng đồng thời cũng kéo theo áp lực về đất đai, giao thông, hạ tầng xã hội và chi phí đầu tư. Trong khi đó, không ít khu vực có quỹ đất, tài nguyên và các lợi thế phát triển khác lại chưa thể phát huy do thiếu kết nối.
Theo GS.TS Hoàng Văn Cường - Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, ĐBQH khóa XIV, XV,hạ tầng có vai trò quan trọng trong việc thay đổi sự phân bổ này. Khi hệ thống giao thông và hạ tầng kỹ thuật được kết nối đồng bộ, những khu vực trước đây khó tiếp cận có thể tham gia sâu hơn vào các hoạt động kinh tế.
"Một hệ thống hạ tầng kết nối đồng bộ, hoàn chỉnh không chỉ giúp khai thác nguồn lực tại những khu vực trước đây chưa có hạ tầng, mà còn tạo điều kiện phân bổ nguồn lực đầu tư rộng hơn, thúc đẩy sự phát triển đồng đều giữa các khu vực", GS.TS Hoàng Văn Cường nói.
Theo ông, hạ tầng tốt sẽ làm thay đổi cách doanh nghiệp lựa chọn địa điểm đầu tư. Nếu trước đây nhà đầu tư phải ưu tiên những nơi thuận tiện về giao thông, cảng biển hoặc các điều kiện tiếp cận khác, thì khi mạng lưới kết nối được mở rộng, những địa bàn nằm xa các trung tâm truyền thống cũng có thể trở thành lựa chọn mới.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa với những khu vực có dư địa về đất đai, nguồn lao động hoặc lợi thế sản xuất nhưng trước đây bị hạn chế bởi khoảng cách. Khi chi phí và thời gian kết nối giảm xuống, lợi thế của các địa phương cũng được thay đổi, từ đó tạo điều kiện hình thành những chuỗi sản xuất, dịch vụ và logistics mới.

Tác động của hạ tầng vì vậy không chỉ nằm ở việc rút ngắn một hành trình. Quan trọng hơn, nó có thể thay đổi nơi nào có khả năng thu hút vốn, nơi nào có thể hình thành việc làm và nơi nào có điều kiện phát triển các hoạt động kinh tế mới.
GS.TS Hoàng Văn Cường cho rằng việc phân bổ lại nguồn lực còn giúp giảm tình trạng hoạt động kinh tế tập trung quá mức tại một số khu vực. Khi các cực phát triển mới được hình thành, áp lực lên những trung tâm đã quá tải có thể được giảm bớt, đồng thời nguồn lực của các địa phương được khai thác hiệu quả hơn.
Không gian phát triển cũng không chỉ được mở rộng theo chiều ngang. Tại các đô thị lớn, theo ông Cường, việc khai thác không gian ngầm và không gian tầm thấp có thể tạo thêm dư địa cho giao thông, thương mại, dịch vụ và các hạ tầng kỹ thuật hiện đại.
Nếu được quy hoạch và kiểm soát phù hợp, việc tổ chức nhiều tầng không gian có thể giúp các đô thị sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực đất đai, thay vì tiếp tục mở rộng theo chiều ngang trong điều kiện quỹ đất ngày càng hạn chế.

Hà Nội đang cho thấy khá rõ cách hạ tầng có thể làm thay đổi không gian phát triển. Hàng loạt dự án vành đai, cao tốc hướng tâm, cầu vượt sông và đường sắt đô thị được triển khai, tạo thêm các kết nối giữa khu vực trung tâm với ngoại vi và các địa phương trong vùng.

Theo TS. Nguyễn Hữu Đức - chuyên gia giao thông, những công trình này không nên chỉ được nhìn nhận dưới góc độ giải quyết ùn tắc hay rút ngắn thời gian đi lại.
Về dài hạn, hạ tầng quy mô lớn có thể trở thành "bộ khung" để tổ chức lại dòng chảy kinh tế, dân cư và không gian sống.
Với Hà Nội, ông cho rằng các tuyến vành đai, cao tốc hướng tâm và chuỗi cầu vượt sông đang tạo lực đẩy để thành phố chuyển từ cấu trúc "đơn cực nén" sang mô hình đa cực, đa trung tâm.
Khi khả năng kết nối được cải thiện, những khu vực nằm ngoài lõi trung tâm có thể thu hút thêm dân cư, doanh nghiệp và các hoạt động dịch vụ, thay vì chỉ đóng vai trò vùng phụ cận.
Sự thay đổi này cũng cho thấy hạ tầng giao thông có thể tạo ra các hành lang kinh tế mới. Một tuyến đường không chỉ kết nối hai điểm đầu - cuối mà còn tạo điều kiện để các hoạt động sản xuất, logistics, thương mại, dịch vụ và đô thị phát triển dọc theo tuyến.
Trong đó, đường sắt đô thị và mô hình phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) là một ví dụ.
Theo TS. Nguyễn Hữu Đức, các nhà ga có thể trở thành những điểm tập trung mật độ cao về dân cư, thương mại, dịch vụ và văn phòng.
Khi nhà ở và các hoạt động kinh tế được tổ chức quanh đầu mối giao thông công cộng, quỹ đất được khai thác theo chiều cao và khả năng tiếp cận bằng phương tiện công cộng được cải thiện.
Mô hình này cũng tạo ra sự thay đổi trong cách hình thành thị trường bất động sản. Theo ông Đức, phát triển nhà ở theo TOD không nhất thiết phụ thuộc vào việc có một quỹ đất lớn.
Trong phạm vi hẹp quanh nhà ga, việc phát triển cao tầng có thể tăng hiệu quả sử dụng đất, đồng thời tạo ra một hệ sinh thái thương mại và dịch vụ gắn với giao thông công cộng.
Tuy nhiên, để những khu vực này thực sự trở thành cực tăng trưởng mới, giao thông không thể đi một mình. Việc làm, trường học, y tế, thương mại và các dịch vụ thiết yếu cũng phải được phát triển cùng với hạ tầng.
Nếu chỉ xây dựng nhà ở rồi kết nối người dân về khu vực trung tâm, các đô thị mới có thể trở thành nơi cư trú đơn thuần.
Ngược lại, nếu hình thành được việc làm và dịch vụ tại chỗ, sự dịch chuyển dân cư sẽ đồng thời kéo theo dòng vốn và các hoạt động kinh tế, tạo nên những cực phát triển có tính độc lập hơn.

Từ câu chuyện trên, bài toán đặt ra không còn đơn thuần là xây thêm bao nhiêu tuyến đường, cây cầu hay nhà ga, mà là làm gì với không gian được mở ra sau khi hạ tầng hoàn thành.
Theo TS. Nguyễn Hữu Đức, quy hoạch giao thông cần được tích hợp với quy hoạch sử dụng đất. Khi một tuyến đường sắt đô thị, vành đai hay đầu mối giao thông được hình thành, mật độ xây dựng, chức năng sử dụng đất và hệ thống hạ tầng xã hội xung quanh cũng cần được tính toán tương ứng.
Nếu hạ tầng giao thông được đầu tư nhưng quy hoạch đô thị không theo kịp, một khu vực có thể nhanh chóng tăng dân số và mật độ xây dựng, trong khi trường học, bệnh viện, không gian công cộng và năng lực giao thông lại chưa đáp ứng. Khi đó, công trình mới có thể tạo ra một dạng áp lực khác thay vì giải quyết áp lực cũ.
Ngược lại, nếu giao thông, đất đai, đô thị, logistics và hạ tầng xã hội được quy hoạch đồng bộ, hiệu ứng của một công trình có thể lan rộng hơn nhiều so với phạm vi của chính công trình đó.

Đây cũng là điểm nối với quan điểm của GS.TS Hoàng Văn Cường về phân bổ nguồn lực. Theo ông, hạ tầng cần được nhìn như một mạng lưới thống nhất, qua đó vừa khai thác các tiềm năng mới, vừa tạo điều kiện phân bổ dòng vốn đầu tư rộng hơn.
Khi kết nối vùng được cải thiện, lợi ích không chỉ thuộc về địa phương có công trình đi qua. Một khu công nghiệp có thể tiếp cận cảng và sân bay thuận lợi hơn; doanh nghiệp có thể lựa chọn địa điểm sản xuất ngoài khu vực trung tâm; người lao động có thêm lựa chọn nơi ở và việc làm; còn các đô thị có thể chia sẻ chức năng thay vì cùng tập trung mọi hoạt động vào một lõi.
Ở quy mô lớn hơn, các tuyến vành đai và cao tốc vì vậy có thể tạo ra mạng lưới liên kết giữa nhiều địa phương, thay vì chỉ giải quyết bài toán giao thông của từng đô thị riêng lẻ. Khi các mắt xích được kết nối, không gian kinh tế cũng có thể được tổ chức theo các chuỗi sản xuất, cung ứng và dịch vụ thay vì ranh giới hành chính.
GS.TS Hoàng Văn Cường cho rằng mục tiêu cuối cùng của việc phát triển hạ tầng không chỉ là tạo thuận lợi cho đi lại, mà còn phải giúp khai thác các nguồn lực đang bị bỏ ngỏ và phân bổ nguồn lực đầu tư hợp lý hơn.
Theo cách đó, một cây cầu, tuyến cao tốc hay đường sắt đô thị có thể tạo ra giá trị lớn hơn nhiều so với bản thân công trình nếu nó kéo theo sự hình thành của những không gian kinh tế mới.
Hạ tầng vì vậy đang dần chuyển từ vai trò là nền tảng phục vụ tăng trưởng sang một công cụ tái tổ chức không gian phát triển. Khi được quy hoạch đồng bộ, những tuyến kết nối mới không chỉ đưa người và hàng hóa đi nhanh hơn, mà còn quyết định nơi dòng vốn tìm đến, nơi việc làm được tạo ra và cách các cực kinh tế mới hình thành trong tương lai.

THỰC HIỆN: HỒNG NHUNG
HÌNH ẢNH: NGƯỜI ĐƯA TIN
NGUOIDUATIN.VN | CHỦ NHẬT, 18/10/2026 | 7:00
