Hai góc nhìn nghệ thuật về hình tượng Hồ Chí Minh của hai nhà văn xứ Nghệ
Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là niềm vui, niềm vinh dự nhưng cũng là một thử thách lớn đối với người cầm bút. Bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một nhân vật lịch sử kiệt xuất mà còn là một biểu tượng văn hóa, một lãnh tụ vĩ đại đã đi vào tâm thức dân tộc và nhân loại
Nội dung: Nguyễn Thị Thiên - Trình bày: Nam Phong
Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là niềm vui, niềm vinh dự nhưng cũng là một thử thách lớn đối với người cầm bút. Bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một nhân vật lịch sử kiệt xuất mà còn là một biểu tượng văn hóa, một lãnh tụ vĩ đại đã đi vào tâm thức dân tộc và nhân loại. Viết về Người, nếu không cẩn trọng, rất dễ rơi vào khuynh hướng thần thánh hóa lãnh tụ, làm mất đi vẻ đẹp gần gũi của một con người giản dị, khiêm nhường hoặc nếu quá thiên về đời thường thì khó khắc họa được tầm vóc vĩ đại của một danh nhân lịch sử kiệt xuất. Chính vì thế, mỗi tác phẩm thành công về Hồ Chí Minh đều là kết quả của sự kết hợp hài hòa giữa sự thật lịch sử với hư cấu nghệ thuật, giữa tư liệu xác thực với cảm hứng sáng tạo cùng tài năng của nhà văn.

Tiểu thuyết “Búp sen xanh” của nhà văn Sơn Tùng.

“Nợ nước non” (tập 1 trong bộ tiểu thuyết 5 tập “Nước non vạn dặm”) của nhà văn Nguyễn Thế Kỷ.
Trong dòng chảy ấy, có hai cuốn tiểu thuyết “Búp sen xanh” của Sơn Tùng và “Nợ nước non” (tập 1 trong bộ tiểu thuyết 5 tập “Nước non vạn dặm” của Nguyễn Thế Kỷ) có thể xem là hai thành tựu nổi bật viết về khắc họa hình tượng Hồ Chí Minh tuổi ấu thơ và tuổi thanh niên. Ra đời ở hai thời điểm khác nhau, mang dấu ấn phong cách của hai thế hệ nhà văn khác nhau, nhưng cả hai người con xứ Nghệ này đều gặp nhau ở một điểm cốt lõi: khắc họa Hồ Chí Minh trước khi Người trở thành vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc. Đó là hình tượng cậu bé Nguyễn Sinh Cung, người học trò yêu nước Nguyễn Tất Thành luôn hết mực yêu thương cha mẹ, ông bà, người thân, xóm mạc; luôn mang trong tim nỗi đau nước mất, thân phận nô lệ, lầm than, nung nấu con đường cứu nước. Có lẽ, đây chính là điểm gặp gỡ đẹp nhất, thân thương nhất giữa hai nhà văn xứ Nghệ khi khắc họa hình tượng Hồ Chí Minh khi Người còn rất trẻ. Cả Sơn Tùng và Nguyễn Thế Kỷ đều không bắt đầu từ ánh hào quang của lịch sử mà bắt đầu từ những năm tháng bình dị của một con người xứ Nghệ. Các ông đều hiểu rằng, không có tuổi thơ thì không có nhân cách; không có gia đình thì không có chí hướng; không có quê hương thì cũng không thể có một Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa lớn của dân tộc và nhân loại.

Điều làm nên sức hấp dẫn của cả hai tác phẩm về Bác kính yêu trước hết là tình yêu sâu nặng mà các tác giả dành cho nhân vật trung tâm. Đó không phải sự ngợi ca một chiều, mà là sự kính trọng, biết ơn được xây dựng trên nền tảng của sự thấu hiểu, rung động, khâm phục. Sơn Tùng đã dành hơn ba mươi năm lặn lội gặp gỡ những người từng biết về Bác để chắt lọc từng chi tiết nhỏ. Nguyễn Thế Kỷ cũng dày công dành gần hai mươi năm để khảo cứu tư liệu lịch sử, đối chiếu với nguồn tư liệu, tài liệu chính thống, và đặc biệt hơn, ông đã đi đến nhiều nơi trong nước và thế giới nơi Bác từng sống, từng in dấu chân lịch sử để dựng lại một giai đoạn đầy biến động trong cuộc đời của Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Tất Thành. Chính sự nghiêm cẩn và tâm huyết ấy đã đem đến cho hai cuốn tiểu thuyết giá trị vượt lên trên một tác phẩm hư cấu thông thường.
Đọc “Búp sen xanh” cũng như Nợ nước non, người đọc đều bắt gặp cậu bé Cung ham hiểu biết, giàu lòng trắc ẩn và luôn đặt ra những câu hỏi trước cuộc đời. Nguyễn Sinh Cung không chấp nhận nhìn thế giới bằng con mắt của một đứa trẻ chỉ biết nghe lời. Cậu quan sát, suy nghĩ, thắc mắc và muốn đi đến tận cùng bản chất của mọi điều. Những câu hỏi hồn nhiên về các sĩ phu yêu nước, về những cuộc đàm đạo văn chương, thế sự của cha mình và các bậc túc nho, về thân phận người dân mất nước… tưởng rất nhỏ nhưng lại là những hạt giống đầu tiên gieo vào tâm hồn cậu bé ý thức về đời sống gia đình, cảnh tình quê hương và vận mệnh dân tộc.
Đó cũng là một nét đặc sắc của cả hai nhà văn: không “sáng tác” một thiên tài từ thuở lọt lòng, mà để thiên tài lớn lên từng ngày trong môi trường văn hóa của gia đình và quê hương. Hồ Chí Minh trong hai cuốn tiểu thuyết không phải là một nhân vật phi thường ngay từ đầu. Người lớn lên như bao đứa trẻ xứ Nghệ, Việt Nam, chỉ khác ở chỗ mọi điều nhìn thấy, nghe thấy đều được chưng cất thành suy nghĩ, thành nỗi day dứt và cuối cùng thành khát vọng cứu nước. Nếu quê hương là chiếc nôi đầu tiên của nhân cách thì gia đình chính là trường học đầu đời. Cả hai tác phẩm đều dành những trang văn đẹp nhất để viết về cụ Nguyễn Sinh Sắc, bà Hoàng Thị Loan, về ông ngoại, bà ngoại, về chị Thanh, anh Khiêm, em Nhuận, về những người bạn thuở thiếu thời của Bác. Cha mẹ, ông bà của Bác không chỉ sinh thành, dưỡng dục con, cháu mà quan trọng hơn, họ còn truyền cho các con cháu một vốn sống, lẽ sống, một đạo lý và cốt cách làm người.
Từ trái qua phải: Cụ Nguyễn Sinh Sắc - Thân phụ Bác Hồ; Bà Hoàng Thị Loan - Thân mẫu Bác Hồ; Bà Nguyễn Thị Thanh - Chị gái Bác Hồ và Ông Nguyễn Sinh Khiêm - Anh trai Bác Hồ - tranh sơn dầu của họa sĩ Nguyễn Tô Cảnh phục dựng.

Hình ảnh được phục dựng về sự ham học lắng nghe những lời dạy của các cụ đồ về lẽ công bằng, về phẩm giá của con người, về trách nhiệm đối với đất nước.

Trường học truyền cho các con cháu một vốn sống, lẽ sống, một đạo lý và cốt cách làm người.

Nhà Quê Nội Bác Hồ tại Làng Sen. Ảnh: Đức Hùng
Trong hai tác phẩm, nhân vật Nguyễn Sinh Sắc hiện lên không chỉ là một nhà nho thông minh, khiêm nhường mà còn là một người giàu lòng thương dân, yêu nước, tôn trọng các giá trị văn hóa của đất nước, quê hương. Những lời dạy của cụ về lẽ công bằng, về phẩm giá của con người, về trách nhiệm đối với đất nước đã trở thành nền móng đạo đức của Nguyễn Tất Thành. Những câu nói như: “Ở đời nghề nào cũng tốt…” hay “Nước mất tôi đâu còn nhà nữa”, “quan trường hựu nô lệ trung chi nô lệ, hựu nô lệ” (quan trường là kẻ nô lệ trong đám người nô lệ nên lại càng nô lệ hơn) không chỉ nhấn mạnh khí phách của cụ Phó bảng mà còn lý giải vì sao người con trai của cụ sau này lựa chọn con đường dấn thân cứu nước đầy gian khổ.
Điều đáng quý, đáng ghi nhận nữa là cả Sơn Tùng và Nguyễn Thế Kỷ đều không xây dựng nhân vật Nguyễn Sinh Sắc như là một người đạo mạo, khuôn phép. Ông hiện lên với tất cả chiều sâu của một người cha, có sự nghiêm khắc nhưng cũng đầy bao dung, có nỗi đau riêng nhưng luôn đặt vận mệnh dân tộc lên trên số phận cá nhân. Chính sự kết hợp giữa tình phụ tử và tinh thần yêu nước đã tạo nên sức lan tỏa đặc biệt của hình tượng này.

Ngôi nhà ở quê ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh: Đình Tuyên

Ngôi nhà tranh 5 gian của cụ Hoàng Đường và cụ Nguyễn Thị Kép, ông bà ngoại Bác Hồ.

Khu mộ bà Hoàng Thị Loan trên núi Động Tranh. Ảnh Quốc Đàn
Song hành với ảnh hưởng của người cha là sự chăm bẵm, dạy dỗ ân cần của bà ngoại Nguyễn Thị Kép, của mẹ Hoàng Thị Loan, của những câu ca dao, tục ngữ, vốn văn hóa truyền thống của dân tộc và quê hương. Đây là điểm gặp gỡ rất thú vị giữa hai tác giả thể hiện đậm nét trong hai tác phẩm. Không gian văn hóa dân gian hiện diện tự nhiên trong từng trang sách, như mạch nguồn trong trẻo, ăm ắp nuôi dưỡng tâm hồn Nguyễn Sinh Cung. Những ca dao, câu tục ngữ, thành ngữ không chỉ làm giàu ngôn ngữ tiểu thuyết mà còn cho thấy Hồ Chí Minh lớn lên từ chính trí tuệ của nhân dân, của dân tộc. Sau này, khi trở thành một nhà văn hóa lớn, lãnh tụ vĩ đại của Đảng và nhân dân ta, Người vẫn luôn sử dụng lời ăn tiếng nói bình dị của quê hương và dân tộc như một cách trở về với cội nguồn thiêng liêng.
Một điểm tương đồng nữa làm nên vẻ đẹp nhân văn của hai tác phẩm là việc cả hai nhà văn đều dành những trang viết tinh tế cho mối tình trong sáng giữa Nguyễn Tất Thành và Lê Thị Huệ - Út Huệ. Đây không phải là một chi tiết nhằm lãng mạn hóa cuộc đời Bác, mà ngược lại, càng làm sáng rõ chiều cao nhân cách của Người. Nguyễn Tất Thành biết yêu, biết rung động, biết trân trọng một tình cảm đẹp như bất cứ chàng trai nào. Nhưng khi Tổ quốc cất tiếng gọi, Người đã chấp nhận đặt hạnh phúc riêng xuống phía sau để lựa chọn con đường lớn. Chính vì có cái để từ bỏ nên sự lựa chọn ấy càng trở nên cảm động và cao cả.
Đọc hai tác phẩm “Búp sen xanh” và “Nợ nước non”, người đọc dễ dàng nhận ra rằng Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh không sinh ra để trở thành huyền thoại. Người đã trở thành huyền thoại bởi Người biết vượt lên trên tất cả khó khăn, thử thách, kể cả sự sinh tử; vượt lên cả những ước muốn giản dị, những điều rất đỗi con người của chính mình vì Nhân dân, vì dân tộc và nhân loại. Và cũng chính ở điểm ấy, Sơn Tùng và Nguyễn Thế Kỷ đã gặp nhau trong một quan niệm nghệ thuật đầy tính nhân văn: muốn làm nổi bật tầm vóc của một vĩ nhân thì trước hết phải trả Người về với phẩm chất bình dị vốn có của một con người.

Bác Hồ với thiếu nhi. Ảnh tư liệu

Hình ảnh Bác vui đùa nhảy múa cùng các cháu thiếu nhi như một người ông hiền hoà.



Tuy gặp nhau ở cảm hứng ngợi ca và ở điểm nhìn hướng về cội nguồn nhân cách, Búp sen xanh và Nợ nước non vẫn là hai tác phẩm mang hai sắc thái nghệ thuật khác nhau khá rõ. Nếu Sơn Tùng thiên về giọng kể trữ tình, đằm sâu, giàu chất hồi ức và biểu tượng, thì Nguyễn Thế Kỷ lại nghiêng về bút pháp sử thi, mở rộng không gian lịch sử và nhấn mạnh bước chuyển của một con người cá nhân thành một chủ thể gắn với vận mệnh dân tộc. Chính sự khác biệt ấy làm nên vẻ phong phú của văn chương nói chung, thể loại tiểu thuyết nói riêng viết về Hồ Chí Minh.
Ở “Búp sen xanh”, hình tượng trung tâm được soi chiếu qua một lớp ánh sáng dịu nhẹ, trong trẻo như chính nhan đề tác phẩm. “Búp sen” là hình ảnh của sự khởi đầu, của vẻ đẹp còn hàm chứa, chưa nở hết nhưng đã mang sẵn hương sắc thanh cao.
Ở “Búp sen xanh”, hình tượng trung tâm được soi chiếu qua một lớp ánh sáng dịu nhẹ, trong trẻo như chính nhan đề tác phẩm. “Búp sen” là hình ảnh của sự khởi đầu, của vẻ đẹp còn hàm chứa, chưa nở hết nhưng đã mang sẵn hương sắc thanh cao. Sơn Tùng không vội đẩy nhân vật vào những biến cố lớn của lịch sử mà kiên nhẫn theo dõi từng bước trưởng thành của Nguyễn Sinh Cung từ Làng Sen, từ mái nhà tranh, từ những câu chuyện gia đình, từ những rung động đầu đời. Vì thế, tác phẩm có dáng dấp của một thiên tiểu sử nghệ thuật được viết bằng tình yêu và sự nâng niu. Mỗi chi tiết đều như được chắt ra từ ký ức, từ sự kính trọng, từ một nỗi say mê bền bỉ đối với nhân vật.
Ở góc độ khác, “Nợ nước non” của Nguyễn Thế Kỷ mang một nhịp điệu rộng hơn, dồn hơn và giàu tính sử thi hơn. Ngay từ nhan đề, tác phẩm đã gợi ra một món nợ lớn lao mà người thanh niên Nguyễn Tất Thành mang trong lòng: Món nợ với non sông, với dân tộc, với những kiếp người đang sống trong cảnh lầm than, nô lệ.
Ở góc độ khác, “Nợ nước non” của Nguyễn Thế Kỷ mang một nhịp điệu rộng hơn, dồn hơn và giàu tính sử thi hơn. Ngay từ nhan đề, tác phẩm đã gợi ra một món nợ lớn lao mà người thanh niên Nguyễn Tất Thành mang trong lòng: món nợ với non sông, với dân tộc, với những kiếp người đang sống trong cảnh lầm than, nô lệ. Nếu “Búp sen xanh” nghiêng về vẻ đẹp của sự nảy nở, thì “Nợ nước non” lại nhấn mạnh sức nặng của trách nhiệm, của sứ mệnh. Nhân vật Nguyễn Tất Thành trong tác phẩm này không chỉ là một chàng trai có tâm hồn nhạy cảm mà còn là một con người đang từng bước ý thức rất rõ về con đường phải đi, về cái giá phải trả, về sự lựa chọn không thể trì hoãn.

Ngày 5-6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đặt chân lên con tàu Amiral Latouche-Tréville tại bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước. Ảnh tư liệu
Chính vì thế, Nguyễn Thế Kỷ thường đặt nhân vật của mình trong những tương quan rộng lớn hơn: tương quan giữa cá nhân và thời đại, giữa gia đình và đất nước, giữa khát vọng riêng và sứ mệnh chung. Từ đó, tác phẩm không chỉ kể về một con người mà còn kể về một thời đoạn lịch sử đang chuyển mình dữ dội. Những trang viết về phong trào yêu nước, về cảnh đời cơ cực của nhân dân, về sự bế tắc của các con đường cứu nước cũ… đã tạo nên một nền hiện thực dày đặc, làm nổi bật hơn nữa quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành. Nếu Sơn Tùng chủ yếu đi vào chiều sâu tâm hồn, thì Nguyễn Thế Kỷ mở rộng tầm nhìn ra chiều rộng của lịch sử.
Sơn Tùng thường viết bằng giọng văn giàu cảm xúc, mềm mại, đôi khi như đang thủ thỉ với người đọc. Cái hay của ông là làm cho lịch sử trở nên gần gũi, làm cho những nhân vật lớn trở nên thân thuộc mà không hề tầm thường.
Nguyễn Thế Kỷ lại có xu hướng tổ chức câu chuyện theo những lớp lang rộng, tạo nhịp
điệu trang trọng, có lúc như một khúc tráng ca. Giọng văn ấy phù hợp với việc
tái hiện một giai đoạn lịch sử nhiều biến động, đồng thời làm nổi bật tầm vóc
tư tưởng của nhân vật trung tâm.
Sự khác biệt ấy còn thể hiện ở cách xây dựng nhân vật. Trong “Búp sen xanh”, Nguyễn Sinh Cung hiện lên chủ yếu qua những nét tinh tế, mềm mại, giàu chất thơ. Người đọc cảm nhận được ở nhân vật một vẻ đẹp lặng lẽ, kín đáo, như một mầm sen đang lớn lên trong bùn đất mà vẫn giữ được hương thơm thanh cao, tinh khiết. Còn trong “Nợ nước non”, Nguyễn Tất Thành được khắc họa với dáng vẻ của một thanh niên đang trưởng thành trong thử thách, có suy tư, có trăn trở, có những cuộc đối thoại nội tâm mạnh mẽ. Nhân vật vì thế mang tính động hơn, quyết liệt hơn, và cũng gần với hình tượng người chiến sĩ yêu nước và cách mạng hơn.
Không chỉ khác nhau ở cách khắc họa nhân vật, hai tác phẩm còn khác nhau ở giọng điệu nghệ thuật. Sơn Tùng thường viết bằng giọng văn giàu cảm xúc, mềm mại, đôi khi như đang thủ thỉ với người đọc. Cái hay của ông là làm cho lịch sử trở nên gần gũi, làm cho những nhân vật lớn trở nên thân thuộc mà không hề tầm thường. Nguyễn Thế Kỷ lại có xu hướng tổ chức câu chuyện theo những lớp lang rộng, tạo nhịp điệu trang trọng, có lúc như một khúc tráng ca. Giọng văn ấy phù hợp với việc tái hiện một giai đoạn lịch sử nhiều biến động, đồng thời làm nổi bật tầm vóc tư tưởng của nhân vật trung tâm.
Từ góc độ nghệ thuật, có thể nói “Búp sen xanh” giống như một bức tranh được vẽ bằng những gam màu trong trẻo, còn “Nợ nước non” giống như một bản giao hưởng có nhiều cung bậc, từ trầm lắng đến hùng tráng. Một bên thiên về vẻ đẹp của nguồn cội, của tuổi thơ, của sự hình thành nhân cách; một bên thiên về vẻ đẹp của lý tưởng, của trách nhiệm, của bước đi lịch sử. Nhưng chính sự khác nhau ấy lại bổ sung cho nhau, làm cho hình tượng Hồ Chí Minh trong văn học trở nên đầy đặn hơn, đa diện hơn, giàu sức biểu cảm hơn.

Tranh vẽ người thanh niên Nguyễn Tất Thành rời cảng Bến Nhà Rồng Sài Gòn với quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước.

Bác Hồ thời trẻ. Ảnh TƯ LIỆU

Hình ảnh Bác ân cần thăm hỏi bà con nông dân về tình hình sản xuất.

Bức tranh Bác Hồ với thiếu nhi của hoạ sĩ Lê Duy Ứng.

Ngày 2/9/1945 đã trở thành một dấu ấn đi vào lịch sử dân tộc Việt Nam với bản tuyên ngôn độc lập của Bác Hồ khẳng định quyền tự do độc lập của Việt Nam "... Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập..."
Có thể nói, nếu đọc “Búp sen xanh”, ta thấy được Hồ Chí Minh từ trong cái nôi của gia đình và quê hương; còn đọc “Nợ nước non”, ta thấy được Hồ Chí Minh trong quá trình tự ý thức và lựa chọn con đường cứu nước. Một tác phẩm cho ta cảm quan về sự nảy mầm, tác phẩm kia cho ta cảm giác về sự dấn thân về phía trước. Một tác phẩm làm nổi bật vẻ đẹp của “búp sen”, tác phẩm kia làm sáng lên món “nước non” mà một con người đã tự nguyện gánh lấy cho dân tộc.
Từ đó, có thể khẳng định rằng hai cuốn tiểu thuyết “Búp sen xanh” và “Nợ nước non” không hề đối lập mà bổ sung, soi sáng cho nhau. Cả hai cùng góp phần tạo dựng hình tượng Hồ Chí Minh vừa lớn lao vừa gần gũi, vừa bình dị vừa phi thường. Đó là một hình tượng Hồ Chí Minh được hình thành từ gia đình, quê hương, dân tộc; được nuôi dưỡng bằng văn hóa dân gian; được tôi luyện trong nỗi đau mất nước; và cuối cùng tỏa sáng như một biểu tượng của ý chí độc lập, tự do.
Vì lẽ đó, giá trị lớn nhất của “Búp sen xanh” và “Nợ nước non” không chỉ nằm ở việc tái hiện một giai đoạn cuộc đời Hồ Chí Minh thời niên thiếu và tuổi thanh niên, mà quan trọng hơn, hai tác phẩm giúp người đọc hiểu sâu hơn một chân lý: vĩ nhân không tự có mà bắt đầu bằng bước chân thơ dại, lớn dần lên từ lời ru của bà, của mẹ, từ quê hương, đất nước, từ những thử thách khắc nghiệt của lịch sử. Và khi văn học nghệ thuật chạm được đến chân lý ấy bằng tình yêu và tài năng, nó không chỉ kể lại quá khứ mà còn làm cho quá khứ tiếp tục sống mãnh liệt, lôi cuốn trong hiện tại và tương lai.

Bác Hồ về thăm quê Nam Đàn, Nghệ An (1957) trong niềm hân hoan của bà con chòm xóm. Ảnh tư liệu phục dựng màu
--------------------
Hà Nội, tháng 8/2026
