Hải quan Việt Nam 81 năm: Cải cách thủ tục, kiến tạo môi trường kinh doanh, đồng hành cùng doanh nghiệp phát triển
hải quan

Sắc lệnh số 27/SL năm 1945 là dấu mốc đặt nền móng cho Hải quan Việt Nam, mở ra hành trình 81 năm xây dựng, trưởng thành và không ngừng đổi mới. Từ phương thức quản lý ban đầu, ngành Hải quan từng bước hiện đại hóa, đưa công nghệ và dữ liệu vào hoạt động nghiệp vụ, mở rộng phạm vi quản lý từ cửa khẩu đến toàn bộ chuỗi cung ứng. Tiếp nối truyền thống được bồi đắp qua nhiều thế hệ, Hải quan Việt Nam đang hướng tới mô hình Hải quan số chuyên nghiệp, minh bạch và hiệu quả, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý, tạo thuận lợi thương mại và phục vụ sự phát triển của đất nước.

Ngày 10/9/2026, là thời điểm Hải quan Việt Nam được 81 năm, kể từ khi tổ chức tiền thân ra đời. Sau hơn tám thập kỷ, diện mạo của ngành hải quan đã thay đổi sâu sắc, công việc không chỉ diễn ra tại biên giới và cửa khẩu, mà còn được thực hiện trên các hệ thống dữ liệu, nơi thông tin về doanh nghiệp, hàng hóa và mức độ rủi ro được xử lý trước khi hàng đến.
Ở cửa khẩu truyền thống, doanh nghiệp mang theo hồ sơ, chờ kiểm tra và nhận quyết định thông quan. Ở “cửa khẩu số”, dữ liệu đi trước hàng hóa; rủi ro được sàng lọc trước; cơ quan quản lý tập trung nguồn lực vào lô hàng có dấu hiệu bất thường; doanh nghiệp tuân thủ được phục vụ nhanh hơn. Sự chuyển dịch đó biến cải cách hải quan từ một công việc nội bộ thành hạ tầng mềm của thương mại.
Nhìn từ những con số về cắt giảm thủ tục, dịch vụ công trực tuyến, cơ chế một cửa, đối thoại doanh nghiệp hay số thu ngân sách, có thể thấy một logic xuyên suốt: tạo thuận lợi không đồng nghĩa với nới lỏng quản lý. Đích đến là quản lý chính xác hơn bằng dữ liệu, minh bạch hơn bằng quy trình và thân thiện hơn bằng dịch vụ công.

Ngày 10/9/1945, chỉ ít ngày sau Tuyên ngôn Độc lập, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp, thừa ủy quyền của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ký Sắc lệnh số 27/SL thành lập Sở Thuế quan và Thuế gián thu. Đây là tổ chức tiền thân của Hải quan Việt Nam, được giao nhiệm vụ quản lý thuế quan, bảo vệ nguồn thu và kiểm soát hoạt động giao thương của một nhà nước non trẻ.
Từ điểm khởi đầu ấy, lịch sử Hải quan Việt Nam được khái quát qua sáu giai đoạn phát triển, song luôn gắn với hai nhiệm vụ song hành: bảo vệ lợi ích quốc gia và phục vụ dòng chảy hợp pháp của hàng hóa. Trong chiến tranh, đó là kiểm soát biên mậu, bảo đảm nguồn lực cho kháng chiến. Khi đất nước thống nhất, lực lượng phải nhanh chóng tổ chức quản lý trên phạm vi cả nước. Từ thời kỳ đổi mới, nhiệm vụ chuyển mạnh sang hoàn thiện pháp luật, hiện đại hóa, hội nhập khu vực và quốc tế.

Hơn tám thập kỷ sau, “cửa ngõ” mà Hải quan quản lý đã rộng hơn nhiều so với đường biên hữu hình. Đó còn là luồng dữ liệu khai báo, chứng từ điện tử, xuất xứ hàng hóa, thương mại điện tử xuyên biên giới và kết nối giữa nhiều cơ quan quản lý. Quy mô xuất nhập khẩu năm 2025 đạt 930,07 tỷ USD, đây là mức cao nhất từ trước đến nay và tiếp tục tăng. Hoạt động xử lý ở quy mô này không thể tiếp tục dựa vào cách làm thủ công.

Năm 2025 cũng là một mốc tái cơ cấu lớn. Mô hình Tổng cục được tổ chức lại thành Cục Hải quan trực thuộc Bộ Tài chính; 35 cục hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố được sắp xếp thành 20 Chi cục Hải quan khu vực. Toàn ngành giảm khoảng 485 trên 902 đầu mối, tương đương 53,77%. Việc tinh gọn không chỉ giảm tầng nấc tổ chức mà còn tạo tiền đề để chuẩn hóa quy trình và phân bổ nguồn lực theo lưu lượng, địa bàn và rủi ro.

Nếu giai đoạn đầu của cải cách tập trung điện tử hóa các bước xử lý, giai đoạn hiện nay đi sâu hơn: thiết kế lại chính sách để không tái tạo thủ tục giấy trên môi trường số. Trong sáu tháng đầu năm 2026, cải cách hải quan được triển khai trên ba trục: hoàn thiện thể chế; cắt giảm thủ tục và điều kiện kinh doanh; chuyển đổi phương thức quản lý trên nền tảng dữ liệu.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, Cục Hải quan đã tham mưu, trình cấp có thẩm quyền ban hành 2 nghị định của Chính phủ và 9 thông tư của Bộ Tài chính. Cùng với đó là phương án cắt giảm 2 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện; cắt giảm 16 điều kiện kinh doanh; bãi bỏ hoặc đơn giản hóa 66 thủ tục hành chính. Theo tài liệu tổng hợp 6 tháng đầu năm do Cục Hải quan cung cấp, kết quả thực hiện đạt 117,94% kế hoạch được giao tại Quyết định số 1848/QĐ-TTg ngày 27/8/2025.

Tiếp nối kết quả cải cách sáu tháng đầu năm, ngày 7/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 273/2026/NĐ-CP về kinh doanh hàng miễn thuế, có hiệu lực từ ngày 21/8/2026. Đối với hàng hóa từ nội địa đưa vào cửa hàng hoặc kho chứa hàng miễn thuế, cơ quan hải quan thực hiện phê duyệt hoặc không phê duyệt, kèm lý do, qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan trong vòng 2 giờ làm việc kể từ khi hệ thống tiếp nhận thông tin. Việc kiểm tra được thực hiện theo các trường hợp và nguyên tắc quản lý rủi ro quy định tại Nghị định.
Thông tư số 82/2026/TT-BTC quy định tiêu chuẩn địa điểm và quản lý hoạt động kinh doanh hàng miễn thuế. Trong khi đó, Thông tư số 83/2026/TT-BTC quy định tiêu chuẩn và cơ chế quản lý đối với đại lý cùng nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan. Các văn bản này chuyển trọng tâm từ cơ chế công nhận, cấp phép trước sang doanh nghiệp thông báo, tự chịu trách nhiệm và cơ quan hải quan kiểm tra việc đáp ứng tiêu chuẩn trong quá trình hoạt động. Việc cắt giảm các điều kiện và thủ tục liên quan đến kho bãi thuộc tổng thể các phương án cải cách khác, không phải nội dung trực tiếp của riêng hai thông tư.
Đây là điểm phân biệt giữa cải cách bền vững và cải cách hình thức. Nếu chỉ bỏ một biểu mẫu nhưng vẫn yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại cùng loại thông tin ở một khâu khác, chi phí tuân thủ không thực sự giảm. Còn khi dữ liệu được chuẩn hóa, chia sẻ và tái sử dụng, một lần khai báo có thể phục vụ nhiều quyết định quản lý.
Thách thức tiếp theo nằm ở tính đồng đều khi thực thi. Một quy định tiến bộ chỉ phát huy đầy đủ khi cách hiểu giữa các địa bàn thống nhất, hệ thống công nghệ vận hành ổn định và phản hồi vướng mắc đủ nhanh. Vì thế, cải cách thể chế phải đi cùng chuẩn hóa nghiệp vụ, đào tạo công chức và cơ chế giám sát chất lượng phục vụ.
Sáng 23/8, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan với 471/474 đại biểu có mặt tán thành. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2027. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan được Quốc hội thông qua góp phần tạo cơ sở pháp lý để hoàn thiện hệ thống pháp luật về hải quan, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, hiện đại hóa hoạt động quản lý nhà nước và hội nhập kinh tế quốc tế.

Đến ngày 15/12/2025, Cơ chế một cửa quốc gia có hơn 84.000 doanh nghiệp đăng ký, trong đó hơn 9.200 doanh nghiệp tham gia mới trong năm. Cơ chế một cửa ASEAN duy trì trao đổi chính thức chứng từ C/O mẫu D điện tử với 9 quốc gia đã kết nối. Với doanh nghiệp, giá trị lớn nhất của “một cửa” không nằm ở tên gọi mà ở việc giảm số lần đi qua từng cơ quan với những bộ hồ sơ trùng lặp.
Trong kỳ báo cáo từ ngày 15/12/2024 đến ngày 14/12/2025, cơ quan Hải quan tiếp nhận 23.124.451 hồ sơ thủ tục hành chính, trong đó 22.019.562 hồ sơ được nộp trực tuyến. Đến hết tháng 8/2026, đã có 182 TTHC trong lĩnh vực hải quan; trong đó, 171 thủ tục do cơ quan Hải quan thực hiện gồm: 96 TTHC được cung cấp DVCTT toàn trình; 49 TTHC được cung cấp DVCTT một phần; 26 TTHC được cung cấp thông tin trực tuyến. Từ ngày 01/01-13/8/2026 đã tiếp nhận 83.571.395 hồ sơ, trong đó có 83.551.834 hồ sơ trực tuyến; 19.561 hồ sơ tiếp nhận trực tiếp và qua dịch vụ bưu chính.
Kết quả thực thi các phương án cắt giảm, đơn giản hóa TTHC tại Quyết định số 2421/QĐ-BTC của Bộ Tài chính (39 TTHC): Đã thực thi đối với 27/39 TTHC, đạt tỷ lệ 69,23 % kế hoạch, đồng thời tiếp tục rà soát, cắt giảm, sửa đổi trong năm 2026.

Từ ngày 1/6/2026, mô hình thông quan tập trung được thí điểm tại Chi cục Hải quan khu vực III. Sau một tháng, báo cáo của Cục Hải quan ghi nhận thủ tục vận hành thông suốt, thời gian xử lý nghiệp vụ rút ngắn đáng kể và tiết kiệm nhân lực cho cả cơ quan Hải quan lẫn doanh nghiệp. Điểm cốt lõi của mô hình là tách việc xử lý hồ sơ khỏi giới hạn một cửa khẩu cụ thể, tập trung chuyên môn để tăng tính thống nhất.
Công nghệ cũng đang dịch chuyển từ tự động hóa tác vụ sang hỗ trợ quyết định. Kế hoạch giai đoạn 2026–2027 đặt ra nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào phân loại mã HS và xây dựng bản đồ số trong lĩnh vực hải quan. Đây là những nghiệp vụ có ảnh hưởng trực tiếp đến thuế suất, chính sách mặt hàng và thời gian xử lý, nên việc ứng dụng AI chỉ có giá trị khi đi cùng dữ liệu chuẩn, cơ chế kiểm chứng và trách nhiệm giải trình rõ ràng.
Trong kỳ từ ngày 15/12/2024 đến ngày 15/12/2025, toàn ngành ghi nhận 53.758 lượt sử dụng niêm phong định vị điện tử. Từ ngày 01/01/2026 đến ngày 21/8/2026, đã ghi nhận 29.000 lượt sử dụng niêm phong định vị điện tử. Cùng với máy soi, camera và hệ thống quản lý rủi ro, những thiết bị này cho phép giám sát tốt hơn mà không buộc mọi lô hàng phải dừng lại để kiểm tra thủ công. Nhờ đó, công nghệ vừa tạo thuận lợi vừa nâng cao năng lực kiểm soát.

Với doanh nghiệp xuất nhập khẩu, một quy định có thể đúng về nguyên tắc nhưng vẫn tạo ra chi phí nếu hướng dẫn chưa rõ, cách áp dụng khác nhau giữa các địa bàn hoặc hệ thống phát sinh lỗi. Vì vậy, quan hệ đối tác giữa Hải quan và doanh nghiệp không chỉ là hoạt động truyền thông mà còn là kênh phản hồi để chính sách được kiểm nghiệm trong thực tế.
Trong sáu tháng đầu năm 2026, toàn ngành tổ chức 121 hội nghị, hội thảo, tọa đàm; trả lời 1.394 kiến nghị bằng văn bản; hướng dẫn trực tiếp 1.917 lượt và hỗ trợ 3.209 yêu cầu qua điện thoại. Những con số này cho thấy nhu cầu rất lớn về giải thích chính sách và tháo gỡ tình huống phát sinh, nhất là trong giai đoạn nhiều quy định, quy trình và mô hình tổ chức cùng thay đổi.

Năm 2025, Cục Hải quan duy trì các chương trình làm việc với JCCI, Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (VBF), cộng đồng doanh nghiệp Hàn Quốc và nhiều hiệp hội ngành hàng. Các kênh này giúp cơ quan quản lý nhìn thấy vấn đề theo cả hai chiều: vướng mắc của từng lô hàng và điểm nghẽn có tính hệ thống.
Một phản ánh đơn lẻ có thể được giải quyết bằng hướng dẫn nghiệp vụ. Nhưng nếu nhiều doanh nghiệp cùng gặp một vấn đề, câu trả lời cần đi xa hơn: sửa biểu mẫu, chuẩn hóa cách hiểu, điều chỉnh hệ thống, thậm chí kiến nghị sửa quy định. Khi đó, đối thoại trở thành một bộ phận của chu trình xây dựng chính sách, thay vì chỉ là hoạt động sau khi chính sách đã ban hành.

Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 930,07 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm trước. Số thu ngân sách nhà nước từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 469.504 tỷ đồng, bằng 114,2% dự toán và tăng 9,8%.
Số thu NSNN từ ngày 01-15/8/2026 đạt 18.074 tỷ đồng, giảm 25,1% so với tháng trước. Lũy kế từ ngày 01/01–15/8/2026, số thu NSNN từ hoạt động XNK đạt 331.020 tỷ đồng, bằng 73,4% dự toán được giao (451.000 tỷ đồng), bằng 64,1% chỉ tiêu phấn đấu (516.500 tỷ đồng), tăng 18,6% (tương ứng tăng 51.851 tỷ đồng) so với cùng kỳ năm 2025.

Những con số lớn không tự động đồng nghĩa với môi trường kinh doanh tốt hơn, nhưng chúng cho thấy yêu cầu quản lý ở quy mô ngày càng cao. Một hệ thống thông quan nhanh mà thiếu kiểm soát sẽ tạo rủi ro thất thu và cạnh tranh không bình đẳng. Một hệ thống kiểm soát quá nặng về hồ sơ lại làm tăng chi phí cho toàn bộ cộng đồng doanh nghiệp. Điểm cân bằng nằm ở quản lý tuân thủ, hậu kiểm, phân tích dữ liệu và trang thiết bị kiểm tra hiện đại.

Giai đoạn 2026–2030 mở ra một chương mới với kế hoạch cải cách, phát triển và hiện đại hóa hải quan; mở rộng Cơ chế một cửa; phát triển hải quan số, hải quan thông minh; nghiên cứu AI và bản đồ số; tiếp tục thông quan tập trung. Công nghệ sẽ là nền tảng, nhưng chất lượng thể chế và năng lực con người mới quyết định trải nghiệm của doanh nghiệp.
Sau chặng đường 81 năm, dấu ấn của Hải quan Việt Nam không chỉ nằm ở số tờ khai, số vụ việc hay số thu ngân sách. Dấu ấn ấy còn được thể hiện qua số giờ chờ đợi được cắt giảm, số bộ hồ sơ không phải nộp lại, số vướng mắc được xử lý dứt điểm và mức độ tin cậy mà doanh nghiệp có thể đặt vào mỗi quy trình.
Khi thủ tục trở nên đơn giản hơn nhưng quản lý vẫn chặt chẽ hơn, khi dữ liệu thay cho giấy tờ trùng lặp và khi đối thoại dẫn tới điều chỉnh thực chất, cải cách hải quan không còn là câu chuyện riêng của một ngành. Quá trình này trở thành một phần năng lực cạnh tranh của quốc gia và thể hiện cam kết đồng hành rõ ràng với cộng đồng doanh nghiệp.


