HĐXX án hình sự có quyền tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất?
Việc TAND Khu vực 4 - Khánh Hòa tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong một vụ án hình sự nhận được nhiều quan điểm trái chiều.
Vừa qua, Pháp Luật TP.HCM có thông tin về vụ án vi phạm quản lý đất đai liên quan 6 cựu cán bộ xã Vạn Thạnh (nay là xã Đại Lãnh) và huyện Vạn Ninh cũ, tỉnh Khánh Hòa.
Dự kiến ngày 12-3, TAND tỉnh Khánh Hòa sẽ đưa ra xét xử phúc thẩm vụ án này. Một trong những nội dung của bản án sơ thẩm nhận được nhiều ý kiến trái chiều đó là việc tòa án khi xét xử án hình sự có được quyền tuyên hủy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN).
Nhận định của tòa sơ thẩm
Theo bản án sơ thẩm của TAND Khu vực 4 – Khánh Hòa, 6 cựu cán bộ xã Vạn Thạnh và huyện Vạn Ninh cũ đã phạm các tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.

Một thửa đất bị tuyên hủy giấy chứng nhận đang được người dân sử dụng nuôi hải sản. Ảnh: HN
Các cựu cán bộ đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thiếu trách nhiệm, không thực hiện đúng nhiệm vụ, quy định pháp luật về đất đai. Hậu quả là Nhà nước mất quyền quản lý, sử dụng đối với 5 thửa đất có tổng giá trị tại thời điểm cấp giấy chứng nhận hơn 2,8 tỉ đồng.
Tòa sơ thẩm nhận định các GCN trên là vật chứng vụ án. Các GCN cấp lần đầu này dựa trên hành vi trái pháp luật của các bị cáo; vi phạm Điều 4, khoản 8 Điều 12 Luật Đất đai năm 2013 (nay là khoản 1 Điều 5, khoản 4 Điều 11 Luật Đất đai năm 2024) là đối tượng của tội phạm; không có giá trị pháp lý; không có giá trị sử dụng.
HĐXX căn cứ các Điều 89, 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tiêu hủy các GCN. Đồng thời, buộc những người đang sở hữu các phần diện tích đất đã được cấp GCN không đúng pháp luật trên trả lại cho Nhà nước để UBND xã Đại Lãnh tiếp tục quản lý theo quy định. Hồ sơ gốc các thửa đất cần được lưu vào hồ sơ của vụ án hình sự này.
Không thể tiêu hủy giấy chứng nhận
Tiến sĩ - Luật sư Hà Hải (TS-LS), Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP.HCM,cho biết theo Giải đáp số 02/GĐ-TANDTC ngày 19-9-2016 của TAND Tối cao thì GCN là quyết định hành chính, nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.
Tại khoản 1 Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS) quy định: “Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết.”.
Như vậy, GCN là quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, chỉ có thể bị hủy bỏ khi là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính hoặc khi Tòa án giải quyết vụ việc dân sự hoặc bị thu hồi bởi chính cơ quan có thẩm quyền cấp theo quy định tại Điều 106 của Luật Đất đai năm 2013.
Do đó, trường hợp người phạm tội giả chữ ký của người sử dụng đất để thực hiện thủ tục xin cấp lại, cấp đổi GCN, sau đó dùng GCN này vào việc thực hiện hành vi phạm tội thì khi xét xử, HĐXX căn cứ vào khoản 3 Điều 326 của BLTTHS để kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi GCN đó (bản chất là thu hồi giá trị pháp lý của GCN) mà không tịch thu, tiêu hủy theo Điều 106 của BLTTHS. Còn GCN mà các cơ quan tiến hành tố tụng thu giữ được trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là tài liệu của vụ án và phải được lưu trong hồ sơ vụ án.

Tòa án tuyên hủy giấy chứng nhận, thu hồi 5 thửa đất được cấp trái quy định tại xã Vạn Thạnh cũ. Ảnh: HH
Đồng quan điểm, LS Nguyễn Hồng Hà, Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa, cho rằng khi xét xử án hình sự, tòa án không có thẩm quyền thu hồi đất và thu hồi GCN.
Luật sư Hà nói GCN là quyết định hành chính cá biệt, không phải vật chứng để tuyên tịch thu tiêu hủy. Quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành chỉ có thể bị hủy bỏ khi là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính hoặc khi tòa án giải quyết vụ việc dân sự hoặc bị thu hồi bởi chính cơ quan có thẩm quyền cấp theo quy định tại Điều 106 của Luật Đất đai năm 2013.
Theo LS Hà, HĐXX nên căn cứ vào khoản 3 Điều 326 BLTTHS để kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi GCN đó mà không tuyên tịch thu, tiêu hủy theo Điều 106 BLTTHS.
“Đây cũng chính là nội dung hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao tại công văn số 196/TANDTC ngày 3-10-2023. Nhiều bản án hình sự tại Khánh Hòa có hiệu lực liên quan đến lĩnh vực đất đai chỉ kiến nghị UBND thu hồi GCN, thực hiện quyền quản lý đất đai theo Luật Đất đai”- LS Nguyễn Hồng Hà nói.
Cũng theo LS Hà, vật chứng trong tố tụng hình sự thường là công cụ, phương tiện phạm tội hoặc tài sản do phạm tội mà có; còn GCN là sản phẩm của một quyết định hành chính, không phải tang vật. Vì vậy, việc coi GCN là vật chứng để tuyên tịch thu, tiêu hủy theo BLHS và BLTTHS là không phù hợp bản chất pháp lý.
Luật sư Hà cho rằng việc thu hồi đất, giao đất là quyết định quản lý nhà nước về đất đai theo quy định của Luật Đất đai, là quyết định hành chính cá biệt trong lĩnh vực đất đai không phải biện pháp tư pháp hình sự.
Tòa án xét xử án hình sự có thẩm quyền xác định GCN được cấp trái pháp luật; xác định là hậu quả của tội phạm; kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi GCN, quyết định hành chính, xử lý tiền bồi thường, trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự.
Do đó, việc tuyên hủy GCN, buộc giao trả đất cho Nhà nước quản lý là một quyết định vượt ra ngoài phạm vi xét xử vụ án hình sự, có nguy cơ xâm phạm quyền lợi hợp pháp của người thứ ba và quan hệ dân sự đất đai.
Tòa án cấp sơ thẩm tuyên vậy là có cơ sở
Các sai phạm trong quản lý đất đai, đặc biệt là các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để cấp GCN trái quy định, luôn để lại những hậu quả pháp lý phức tạp.
Việc xử lý vật chứng là GCN trong các vụ án này không chỉ đơn thuần là việc áp dụng các quy định của BLTTHS mà còn áp dụng các quy định về hành chính và đất đai để đảm bảo thu hồi triệt để tài sản cho Nhà nước, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.
Trong vụ án này, các cơ quan tố tụng xác định 5 GCN là vật chứng của vụ án - đối tượng của tội phạm, là kết quả của hành vi phạm tội. Việc xử lý vật chứng này vì thế không thể tách rời việc xem xét tính hợp pháp của toàn bộ quy trình hành chính dẫn đến việc ban hành GCN.
Căn cứ Điều 106 Luật Đất đai 2013 thì việc thu hồi GCN đã cấp sai do cơ quan có thẩm quyền cấp giấy thực hiện sau khi có kết luận của cơ quan thanh tra hoặc văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong bối cảnh đó, nhiều bản án hình sự chỉ dừng lại ở việc kiến nghị UBND cấp có thẩm quyền thu hồi GCN đã cấp sai.
Tuy nhiên, Luật Đất đai 2024 có hiệu lực thi hành từ 1-8-2024 thì nội dung này đã được quy định cụ thể, rõ ràng hơn. Theo đó, tại khoản 2, khoản 5 Điều 152 Luật Đất đai 2024 nêu Nhà nước thực hiện thu hồi GCN đã cấp trong trường hợp GCN đã cấp bị tòa án có thẩm quyền tuyên hủy.
Tòa án có thẩm quyền được hiểu bao gồm cả trong vụ án hình sự khi giải quyết các vụ án liên quan đến quản lý đất đai. Điều này cho phép HĐXX trong vụ án hình sự không chỉ tuyên án bị cáo mà còn có thể tuyên hủy các chứng thư pháp lý trái luật trong phần quyết định của bản án.
Việc tuyên hủy GCN mang tính chất của một phán quyết tư pháp có hiệu lực cưỡng chế cao. Một khi tòa án tuyên hủy, GCN đó mất hoàn toàn giá trị pháp lý và đây là căn cứ để UBND cấp có thẩm quyền thực hiện các thủ tục xác lập lại quyền quản lý.
Trong các vụ án lợi dụng chức vụ để cấp đất trái quy định gây thiệt hại cho Nhà nước, mục tiêu quan trọng nhất của biện pháp tư pháp là thu hồi lại khối tài sản đã thất thoát, cả về giấy tờ pháp lý và tài sản thực tế.
Khoản 2 Điều 106 BLTTHS, khoản 2 Điều 47 BLHS cho phép cơ quan tố tụng được quyền tịch thu, tiêu hủy vật chứng của vụ án và trả lại vật, tài sản bị chiếm đoạt cho chủ sở hữu.
Như đã phân tích, GCN là một loại quyết định hành chính cá biệt không thể tiêu hủy về mặt cơ học, mà hủy giá trị pháp lý để làm cơ sở cho cơ quan hành chính Nhà nước thu hồi.
Luật sư NGUYỄN HỮU THỤC, Đoàn Luật sư TP.HCM













