Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo: Gỡ điểm nghẽn, kích hoạt động lực tăng trưởng Bài cuối: Kiến tạo thị trường để công nghệ Việt Nam phát triển
Có công nghệ tốt chưa đồng nghĩa sẽ có thị trường. Để sản phẩm công nghệ Việt Nam có cơ hội thương mại hóa và phát triển, không chỉ cần có doanh nghiệp và nhà khoa học mà còn cần những điều kiện nền tảng như: Tiêu chuẩn, dữ liệu, cơ chế thử nghiệm và thị trường ban đầu. Vì vậy, vai trò của Nhà nước cũng đang chuyển từ hỗ trợ nghiên cứu sang chủ động kiến tạo thị trường cho đổi mới sáng tạo.

Kỹ sư VNPT nghiên cứu mô hình AI phát hiện vật thể từ camera mắt cá. Ảnh: VNPT
Khi công nghệ vẫn chưa tìm được thị trường
Một công nghệ có thể mất nhiều năm, thậm chí hàng chục năm để nghiên cứu. Có kết quả khoa học, có bằng sáng chế, có doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư sản xuất, nhưng tất cả vẫn có thể dừng lại ở phòng thí nghiệm nếu sản phẩm không tìm được đường ra thị trường. Đó là một trong những điểm nghẽn cuối của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo Việt Nam. Sau khi nhiều rào cản về cơ chế nghiên cứu, tài chính và sở hữu trí tuệ từng bước được tháo gỡ, bài toán quyết định lại nằm ở khả năng hình thành thị trường cho công nghệ.
Thực tế cho thấy, thị trường không tự xuất hiện cùng với một kết quả nghiên cứu. Để công nghệ được chấp nhận, cần có hệ thống tiêu chuẩn đánh giá chất lượng, cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý và kết nối cung - cầu, môi trường thử nghiệm để hoàn thiện sản phẩm, cùng những khách hàng đầu tiên sẵn sàng chấp nhận rủi ro khi ứng dụng công nghệ mới. Chỉ cần thiếu một trong các mắt xích này, quá trình thương mại hóa có thể bị ngừng lại.
Dự án tái chế gạch ngói phế thải thành vật liệu lát nền thấm nước, giữ nước là một ví dụ. Trong gần một thập kỷ, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội phối hợp với các đối tác Nhật Bản nghiên cứu xử lý chất thải rắn xây dựng và phát triển vật liệu lát nền “K-Ground” từ gạch ngói phế thải, hướng tới giảm chất thải xây dựng và hình thành ngành công nghiệp tái chế mới. Tuy nhiên, dù công nghệ đã hoàn thiện và chứng minh được tính khả thi, sản phẩm vẫn chưa thể ứng dụng rộng rãi. PGS.TS Nguyễn Hoàng Giang, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Xây dựng Hà Nội lý giải, nguyên nhân không nằm ở công nghệ mà ở việc chưa có hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật phù hợp để đánh giá và chứng nhận sản phẩm. Khi chưa có tiêu chuẩn, sản phẩm khó được nghiệm thu trong các công trình, khó tạo niềm tin với người sử dụng và càng khó hình thành thị trường.
Nếu tiêu chuẩn là điều kiện để công nghệ được công nhận thì dữ liệu là nền tảng để công nghệ kết nối với thị trường. Tuy nhiên, việc thiếu cơ sở dữ liệu đầy đủ khiến cơ quan quản lý khó xác định lĩnh vực cần ưu tiên đầu tư, doanh nghiệp có nhu cầu đổi mới hay công nghệ đã sẵn sàng thương mại hóa. Điều đó cũng khiến việc xây dựng chính sách và kết nối các chủ thể trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thiếu cơ sở thực tiễn.
Một mắt xích khác là môi trường thử nghiệm. Phần lớn công nghệ không thể hoàn thiện chỉ bằng thử nghiệm trong phòng thí nghiệm mà cần được kiểm chứng trong điều kiện vận hành thực tế. Đây là giai đoạn giúp doanh nghiệp tiếp tục hoàn thiện sản phẩm, đồng thời tạo niềm tin cho thị trường. Tuy nhiên, khi chưa có cơ chế thử nghiệm hoặc đơn vị sẵn sàng sử dụng sản phẩm mới, nhiều doanh nghiệp rất khó vượt qua bước khởi đầu của thương mại hóa.
Cục trưởng Cục Khởi nghiệp và Doanh nghiệp công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) Hoàng Ngọc Nhân nêu rõ, điều nhiều startup cần không chỉ là vốn mà còn là cơ hội có được những khách hàng đầu tiên đồng hành trong quá trình thử nghiệm. Nhiều doanh nghiệp sở hữu công nghệ tốt nhưng thiếu môi trường triển khai thực tế, trong khi có những tổ chức, doanh nghiệp lại chưa kết nối được với các giải pháp phù hợp.
Từ quản lý khoa học đến kiến tạo hệ sinh thái
Nếu các chính sách khoa học trước đây chủ yếu hướng tới tạo ra kết quả nghiên cứu thì Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đặt ra cách tiếp cận rộng hơn: Kiến tạo một hệ sinh thái để kết quả nghiên cứu có thể đi trọn hành trình từ phòng thí nghiệm đến thị trường. Sự thay đổi này cũng kéo theo sự chuyển dịch vai trò của Nhà nước. Thay vì chỉ ban hành chính sách hoặc cấp kinh phí cho các nhiệm vụ khoa học, Nhà nước phải tạo dựng những điều kiện để công nghệ phát triển, từ xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, phát triển hạ tầng dữ liệu, hoàn thiện cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đến hình thành thị trường ban đầu thông qua đặt hàng và mua sắm công. Theo nhiều chuyên gia, đó chính là bước chuyển từ tư duy “quản lý khoa học” sang “kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo”.
Một trong những công cụ quan trọng của cách tiếp cận này là cơ chế
Nhà nước trở thành “khách hàng đầu tiên” đối với các sản phẩm công nghệ mới. Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) Hoàng Anh Tú khẳng định, nhiều doanh nghiệp Việt Nam sẵn sàng đầu tư lớn cho nghiên cứu và phát triển (R&D), nhưng nếu không có cơ hội triển khai trong môi trường thực tế thì sản phẩm khó hoàn thiện và càng khó thương mại hóa.
Đặc thù của công nghệ là chỉ có thể được kiểm chứng, điều chỉnh và hoàn thiện thông qua quá trình vận hành trên những “bài toán thật”. Thiếu người sử dụng đầu tiên đồng nghĩa doanh nghiệp thiếu dữ liệu để cải tiến sản phẩm, thiếu minh chứng về hiệu quả công nghệ và khó tạo dựng niềm tin với các khách hàng tiếp theo. Vì vậy, việc Nhà nước đặt hàng hoặc triển khai thí điểm sản phẩm công nghệ không phải là bao cấp cho doanh nghiệp mà là chia sẻ rủi ro trong giai đoạn khó khăn nhất của đổi mới sáng tạo. Khi sản phẩm chứng minh được hiệu quả trong khu vực công, doanh nghiệp sẽ có cơ sở để mở rộng sang thị trường và thu hút thêm nguồn lực đầu tư.
Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân nhấn mạnh, việc đặt hàng sẽ tập trung vào những nhiệm vụ cụ thể, có tính khả thi cao nhằm tạo ra các kết quả ban đầu. Những “chiến thắng nhỏ” này sẽ giúp tích lũy kinh nghiệm, hoàn thiện công nghệ và tạo nền tảng cho các mục tiêu lớn hơn.
Định hướng đó cũng gắn với mục tiêu phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược như: Mô hình ngôn ngữ lớn và trợ lý ảo tiếng Việt, camera AI xử lý tại biên, robot di động tự hành, thiết bị mạng 5G, hạ tầng blockchain và thiết bị bay không người lái. Mục tiêu không chỉ là làm chủ công nghệ lõi mà còn từng bước hình thành thị trường đủ lớn để doanh nghiệp trong nước phát triển năng lực sản xuất và nâng cao tỷ lệ nội địa hóa.
Tuy nhiên, cơ chế đặt hàng chỉ phát huy hiệu quả khi được đặt trong một hệ sinh thái hoàn chỉnh. Theo các chuyên gia, cùng với việc tạo lập thị trường ban đầu, cần tiếp tục hoàn thiện các điều kiện nền tảng như: Hệ thống tiêu chuẩn, cơ sở dữ liệu và cơ chế sandbox để doanh nghiệp có không gian thử nghiệm, hoàn thiện và thương mại hóa công nghệ.
Phó Cục trưởng Cục Khởi nghiệp và Doanh nghiệp công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) Phạm Đức Nghiệm lưu ý, phát triển công nghệ cũng đòi hỏi một văn hóa chấp nhận rủi ro và chấp nhận những sản phẩm chưa hoàn thiện. Hầu như không có sản phẩm công nghệ nào đạt đến sự hoàn hảo ngay từ lần đầu đưa vào sử dụng. Khi Nhà nước đi đầu trong việc sử dụng sản phẩm công nghệ trong nước, niềm tin của thị trường sẽ từng bước được hình thành, tạo động lực để doanh nghiệp tiếp tục đầu tư cho đổi mới sáng tạo.
Sau 18 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, các điểm nghẽn của hệ sinh thái khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được nhận diện. Điều quan trọng hơn là những điểm nghẽn ấy không còn được xử lý như những vấn đề riêng lẻ.
Muốn có những nhiệm vụ nghiên cứu sát thực tiễn phải đổi mới cách xác định nhiệm vụ. Muốn nhà khoa học dám sáng tạo phải thay đổi cơ chế tài trợ và chấp nhận rủi ro. Muốn kết quả nghiên cứu đi vào cuộc sống phải tháo gỡ các rào cản về sở hữu trí tuệ và thương mại hóa. Muốn doanh nghiệp trở thành trung tâm của đổi mới sáng tạo phải tạo động lực để họ đầu tư cho công nghệ. Và muốn những công nghệ ấy trở thành động lực tăng trưởng thì phải tiếp tục hoàn thiện những mắt xích cuối cùng của thị trường: Tiêu chuẩn, dữ liệu, cơ chế thử nghiệm và người mua đầu tiên.
Đó cũng là chuyển biến có ý nghĩa nhất trong tư duy phát triển khoa học, công nghệ hiện nay. Thay vì quản lý từng khâu riêng lẻ, Việt Nam đang từng bước xây dựng một chuỗi đổi mới sáng tạo khép kín, trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, kết nối nguồn lực và điều phối các mắt xích để tri thức có thể đi trọn hành trình từ phòng thí nghiệm đến thị trường. Khi chuỗi giá trị ấy vận hành thông suốt, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ không chỉ là một lĩnh vực phát triển mà thực sự trở thành động lực tăng trưởng mới của đất nước như Nghị quyết số 57-NQ/TW đã đề ra.











