Hiện tượng 'truyền thừa văn tự' qua đối chiếu văn bia của Thiền sư Từ Sơn Hành Nhất và Tính Chúc Đạo Chu
NSGN - Trong dòng chảy lịch sử Phật giáo Việt Nam thế kỷ XVIII, giai đoạn Lê Trung Hưng chứng kiến một sự phục hưng mạnh mẽ của các dòng Thiền, đặc biệt là sự lan tỏa của tông Tào Động từ Trung Hoa vào Đại Việt.
Trong bối cảnh đó, mối quan hệ thầy trò giữa Thiền sư Từ Sơn Hành Nhất (1681-1737) và Thiền sư Tính Chúc Đạo Chu (1698-1775) không chỉ hiện lên như một tấm gương về sự truyền thừa giới pháp, mà còn để lại một di sản văn bản học vô cùng quý giá qua hệ thống bi ký.
Qua khảo sát văn bản, có thể nhận thấy một hiện tượng đáng chú ý, rằng văn bia tháp của Thiền sư Tính Chúc do đệ tử là Tỳ-kheo Hải Tại soạn vào năm 1775 đã sử dụng lại gần như toàn bộ kết cấu và ngôn ngữ của văn bia tháp Thiền sư Từ Sơn, vốn do chính Thiền sư Tính Chúc soạn cho thầy mình gần 40 năm trước.
Không chỉ vậy, phần mở đầu của cả hai văn bia này lại tiếp tục kế thừa một đoạn minh văn xuất hiện trên chuông chùa Thầy (Thiên Phúc tự, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội cũ).
Thiền sư Từ Sơn Hành Nhất, họ Tưởng, quê vùng Chân Định, là đệ tử của Hòa thượng Chân Dung. Ngài là người chủ trì trong việc biên soạn bộ sách Ngự chế Thiền điển thống yếu kế đăng lục (御製禪典綂要繼燈錄), một tác phẩm quan trọng ghi lại lịch sử truyền thừa của Thiền tông Việt Nam thế kỷ XVIII. Khi Thiền sư Từ Sơn Hành Nhất viên tịch vào năm Đinh Tỵ (1737), người đệ tử thủ tọa là Thiền sư Tính Chúc Đạo Chu đã soạn văn bia tháp để ghi lại hành trạng và công đức của thầy. Văn bia này được dựng tại chùa Quảng Nghiêm (Vạn Đức tự, phường Phú Thứ, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương cũ).
Thiền sư Tính Chúc Đạo Chu (1698-1775), họ Hoàng, người xã Vũ Tiên. Theo ghi chép trong bia tháp, ngài “đạo thông tam giáo”, từng tham dự các kỳ khảo hạch Tăng sĩ của triều đình và là người tham gia đọc duyệt bộ sách Ngự chế Thiền điển thống yếu kế đăng lục của thầy mình. Sau khi Thiền sư Tính Chúc viên tịch vào năm 1775, đệ tử của ngài là Tỳ-kheo Hải Tại đã soạn một bài bia tháp dựng tại chùa Sùng Nham (chùa Kem, tổ dân phố Kem, thị trấn Nham Biền, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang cũ).

Tháp đá Viên Minh (圓明), thờ Thiền sư Từ Sơn tại chùa Quảng Nghiêm
1. Nguồn gốc từ minh chuông chùa Thầy
Phần mở đầu của cả hai văn bia thực chất bắt nguồn từ một đoạn minh văn trên chuông chùa Thầy, được soạn vào ngày mùng 9, tháng 8, năm Kỷ Sửu, niên hiệu Long Phù Nguyên Hóa thứ chín (龍符元化九年、己丑、八月、初九日立記), tức là năm 1109. Nội dung đoạn văn mang đậm tư tưởng Hoa nghiêm và Duy thức. Sự tương đồng và biến đổi giữa các văn bản được thể hiện qua bảng so sánh dưới đây:
Có thể thấy cấu trúc cú pháp và nhịp điệu biền ngẫu được giữ gần như nguyên vẹn; sự thay đổi chỉ diễn ra ở một số từ ngữ như 妙理 玄空, 圓點 元照, cho thấy quá trình biến đổi nhẹ, trong khi vẫn bảo tồn khuôn mẫu văn chương ban đầu.
2. Sự tương đồng gần như tuyệt đối về cấu trúc khi đi vào nội dung văn bia
Sau đoạn mở đầu mang tính triết học, tiếp đó, cả hai văn bia đều sử dụng cùng một cấu trúc để thuật lại sự xuất thế và công đức của hai vị thiền sư. Sự tương đồng về cấu trúc được thể hiện qua bảng đối chiếu sau:

Như vậy, người soạn văn bia cho ngài Tính Chúc là Thiền sư Hải Tại rõ ràng đã lâm tập lại văn bia của ngài Từ Sơn (do chính ngài Tính Chúc soạn trước đó) để làm mẫu. Đây là một hiện tượng “truyền thừa văn tự” độc đáo, khi mà ngài Tính Chúc soạn bia cho thầy mình, sau đó người đệ tử của ngài lại dùng chính những lời văn đó để soạn bia cho ngài.
3. Những điểm dị biệt: cá nhân hóa hành trạng
Đây là phần quan trọng nhất để phân biệt hai vị thiền sư. Tác giả của hai bài văn bia đã khéo léo “điền vào chỗ trống” những thông tin về nhân thân của nhị vị, tạo nên những dấu ấn riêng biệt:

Qua bảng so sánh, ta có thể nhận thấy:
- Quê quán và tộc họ đã được thay đổi để phù hợp với lai lịch mỗi vị.
- Năm sinh và thời điểm xuất gia được điều chỉnh theo niên đại thực tế.
- Tên chùa và thời gian khởi dựng của từng ngôi chùa cũng được làm rõ.
- Thông tin về năm mất và nơi an trí xá-lợi là phần khác biệt nhiều nhất.
4. Kết luận
Qua so sánh đối chiếu nội dung của hai văn bia, chúng ta có thể thấy rằng văn bia thiền môn thời Lê - Trịnh có tính ước lệ rất cao. Các đoạn văn biền ngẫu đẹp cả về nội dung và hình thức được coi là di sản chung, theo quan niệm “văn hành công khí” (文衡公器), có thể được lặp lại và điều chỉnh để áp dụng cho các nhân vật khác nhau.
Ngài Tính Chúc khi còn sống đã soạn văn bia cho thầy của mình, và ngôn ngữ đó đã trở thành “khuôn vàng thước ngọc” để cho đệ tử thế hệ sau ca tụng chính ngài. Điều này cho thấy sự kế thừa không chỉ ở phương diện tông môn mà còn ở phương diện văn hóa, ngôn ngữ, tạo nên một dòng chảy trong truyền thống văn bản học Phật giáo Việt Nam thế kỷ XVIII.
Phụ lục
1. Bản dịch bia tháp Thiền sư Từ Sơn:
Bài chí ghi trên bảo tháp
Ôi! Hư không huyền diệu vốn là duy nhất mà cảnh vọng lại thật nhiều. Bẩm thụ cái duy nhất mà vạn hóa được sinh ra, thuận theo vạn hóa mà cái duy nhất luôn soi rạng. Không hình dáng nào có thể đo lường, không ngôn từ nào có thể hiểu thấu. Không có hình dáng nhưng lại hiện khắp đại thiên; không có ngôn từ mà lời vang cả muôn cõi.
Há chẳng phải biển tính vốn sáng ngời, chân không vốn trong suốt, nhưng chỉ bởi vì chẳng giác ngộ, khiến gió vọng thổi thành sóng thức. Đức Giác hoàng (Phật) ra đời, ẩn hào quang nơi Song lâm, còn thầy ta lúc sinh thời cũng giấu ánh sáng tám thức(1). Vua A Dục sùng Phật xây tháp, đệ tử thờ thầy dựng phù đồ. Đó là bởi tâm sinh ba việc(2), vốn từ lòng đôn hậu mà ra; đức báo bốn ơn(3), xây nền móng nghĩa nhân từ đó. Do thế bèn mời thợ giỏi, xác định nền móng, dựng đá biếc mà ghép đinh vàng; ghi lại cơ duyên rồi khắc lên bảo tháp.
Ngài là người ở làng Ngải, vùng Chân Định, nước Việt, họ Tưởng, sinh năm Tân Dậu (1681), còn nhỏ đã vào đạo, đến tuổi đội mũ thì xuất gia, [tài cao tựa] Bắc Đẩu, Thái Sơn, đứng đầu trong hàng ngũ Tăng chúng, đắc pháp với Hòa thượng Chân Dung. Đức vua từng đích thân hạ bút, ban chỉ sai ngài biên soạn bộ sách Thiền điển kế đăng.Gặp lúc rồng còn ẩn nơi vực được giảng thuyết ở đầu quẻ Càn(4), ngài đã là bậc tài đức quý báu của thế gian, vượt lên trên tất cả đại chúng; đến khi ánh dương thêm sáng, quẻ Ly rạng rỡ ở ngôi cao(5), thì ngài cũng được tôn vinh ở vị trí bậc thầy.
Từ đó, người quy y ngày một đông, kẻ cúng dàng ngày càng lắm. Ngài đã dùng vô số tiền của để hưng sùng vô lượng công đức. Năm Giáp Thìn (1724), ngài bắt đầu xây dựng chùa Quảng Nghiêm. Chùa này địa thế hữu tình, bụi trần chẳng đến. Cửa thiền tuy nhỏ nhưng lại có cơ đồ rộng lớn; cảnh đẹp có sẵn lại hàm chứa thú vị không cùng. Ngài phó chúc cho pháp tử ở lại trụ trì nơi đó.
Đến năm Đinh Tỵ (1737), vào giữa mùa đông (tháng 11), ngài bấy giờ thọ 57 tuổi, tới ngày 14 của tháng ấy, vào giờ Thân (khoảng thời gian từ 15:00 đến 17:00 chiều) thì ngài viên tịch, đến năm Ngọ (1738) thì làm lễ xà duy. Sau đó, pháp tử thu lấy xá-lợi, kiến lập một ngôi bảo tháp nằm ở phía bên trái của chùa Quảng Nghiêm, cũng kiến lập một ngôi bảo tháp ở tại chùa Phật Tích. Khởi công vào năm Mậu Ngọ (1738), đến năm Kỷ Mùi (1739) thì hoàn thành tốt đẹp.
Tháp này núi này sẽ cùng đứng vững hàng ức vạn năm, [để cho đến] ngàn đời sau chân bước đến đây, mắt thấy nơi này, nhìn thấy dấu tích vẫn còn như thế ấy. Duy có đức nghiệp của thiền sư là càng ngày càng sáng tỏ, danh thơm của đạo tràng sẽ cùng với thiền sư lưu truyền mãi đến ngàn sau.
Làm vào ngày lành tháng 3 năm Vĩnh Hựu thứ 4 (1738).
Pháp tử thủ tòa, tự là Tính Chúc dựng tháp và soạn văn.
Tự thừa(6) Phạm Gia Lạc, tự là Như Lan, người ở xã Trung Lập, huyện Đường Hào kính viết.
2. Bản dịch bia tháp Thiền sư Tính Chúc:
Ôi! Hư không huyền diệu vốn là duy nhất mà cảnh vọng lại thật nhiều. Bẩm thụ cái duy nhất mà vạn hóa được sinh ra, thuận theo vạn hóa mà cái duy nhất luôn soi rạng. Không hình dáng nào có thể đo lường, không ngôn từ nào có thể hiểu thấu. Không có hình dáng nhưng lại hiện khắp đại thiên; không có ngôn từ mà lời vang cả muôn cõi.
Há chẳng phải biển tính vốn sáng ngời, chân không vốn trong suốt, nhưng chỉ bởi vì chẳng giác ngộ, khiến gió vọng thổi thành sóng thức. Đức Giác hoàng (Phật) ra đời, ẩn hào quang nơi Song lâm, còn thầy ta lúc sinh thời, cũng giấu ánh sáng tám thức. Vua A Dục sùng Phật xây tháp, đệ tử thờ thầy dựng phù đồ. Đó là bởi tâm sinh ba việc, vốn từ lòng đôn hậu mà ra; đức báo bốn ơn, xây nền phúc nghĩa nhân từ đó. Do thế bèn mời thợ giỏi, xác định nền móng, dùng gạch vuông kết hợp với vôi cát; xét cơ duyên mà khắc bài chí tháp.
Ngài vốn là người ở làng Đa Cốc, xã Vũ Tiên, huyện Kiến Xương, [trấn Sơn Nam,] nước Đại Việt. Tôn sư họ Hoàng, sinh năm Mậu Dần (1698), còn nhỏ đã vào đạo, đến tuổi đội mũ thì xuất gia, [tài cao tựa] Bắc Đẩu, Thái Sơn, đứng đầu trong hàng ngũ Tăng chúng, đắc pháp với Hòa thượng Tịnh Giác. Đức vua từng đích thân hạ bút, đặc biệt ban lệnh sai ngài biên soạn bộ sách Thiền uyển kế đăng(7). Ngài thi đỗ tám khoa(8), đạo thông ba giáo(9). Gặp lúc rồng còn ẩn nơi vực được giảng thuyết ở cung Càn, ngài đã là bậc tài đức quý báu của thế gian, vượt lên trên tất cả đại chúng; đến khi ánh dương thêm sáng, quẻ Ly rạng rỡ ở ngôi cao, thì ngài cũng được tôn vinh ở vị trí bậc thầy.
Từ đó, người quy y ngày một đông, kẻ cúng dàng ngày càng lắm. Ngài đã dùng vô số của cải để hưng sùng vô lượng công đức. Năm Đinh Hợi (1767), ngài bắt đầu xây dựng chùa Sùng Nham, địa thế hữu tình, bụi trần chẳng đến. Cửa thiền tuy nhỏ nhưng lại có cơ đồ rộng lớn; cảnh đẹp có sẵn lại hàm chứa thú vị không cùng. Ngài phó chúc cho pháp tử ở lại trụ trì nơi đó.
Đến năm Ất Mùi (1775), vào giữa mùa hạ (tháng năm), bấy giờ ngài đã bảy mươi tám tuổi, và được 20 hạ lạp, gồm đủ ba ngàn uy nghi, phong thái đĩnh đạc, bấy giờ, ngài ngồi ngay ngắn mà viên tịch vào giờ Sửu (khoảng thời gian từ 1g00 đến 3g00 sáng) của đêm ngày 25 [tháng ấy], đến giờ Hợi (khoảng thời gian từ 21g00 đến 23g00 đêm) thì nhập thọ tàng(10). Tháng 6 ngày lành, [đại chúng bèn cùng nhau] vân tập về đạo tràng, đến giờ Ngọ (khoảng thời gian từ 11g00 đến 13g00 trưa) của ngày 20, thì cung nghinh [kim quan lên] an vị tại bảo tháp. [Bấy giờ,] các đệ tử bèn chia nhau râu tóc và cà-sa [của ngài]: một xây tháp tại chùa Sùng Nham để thờ nhục thân; một xây tháp tại chùa Thanh Phong quê hương của ngài, kính giữ râu tóc; một xây tháp tại chùa Báo Quốc ở thôn Bình Vọng để chứa cà-sa (hai [ngôi tháp sau được] khởi công vào ngày 14 tháng 11).
Tháp này núi này sẽ cùng đứng vững hàng ức [vạn] năm, [để cho đến] ngàn đời sau chân bước đến đây, mắt thấy nơi này, nhìn thấy dấu tích vẫn còn như thế ấy. Duy có đức nghiệp của thiền sư là càng ngày càng sáng tỏ, danh thơm của đạo tràng sẽ cùng với thiền sư lưu truyền mãi đến ngàn sau.
Ngày lành, tháng 11, niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 36 (1775) tạo lập.
Thủ tọa Tỳ-kheo tên tự là Hải Tại(11) kính soạn.
Thị giả được đặc tứ chức Tăng thống, Tỳ-kheo tên tự là Hải Lượng(12) kính viết.
__________
(1)Tám thức: dịch từ hai chữ “bát thức 八識”, gồm: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt-na thức, và a-lại-da thức thuộc tâm pháp trong năm vị pháp của hành phái Du-già và tông Pháp tướng. Trong đây, sáu thức mắt, tai… là theo căn mà đặt tên; thức a-lại-da dựa vào nghĩa thu giữ nhân quả của các pháp, cũng tức là theo tự tính của nó mà đặt tên. Hoặc gọi năm thức mắt, tai… là năm thức trước, thức ý là thức thứ sáu, thức mạt-na là thức thứ bảy, thức a-lại-da là thức thứ tám. Lại nữa, từ thức mắt đến thức mạt-na đều do thức a-lại-da sinh ra và chuyển đổi, nên được gọi chung là chuyển thức hoặc bảy chuyển thức, vì thức a-lại-da là nhân của bảy chuyển thức nên gọi là thức gốc (căn bản thức), hay thức hạt giống (chủng tử thức) [theo Thích Quảng Độ dịch, 2000, T1, tr.490].
(2)Ba việc: dịch từ hai chữ “tam sự 三事”, chưa rõ nghĩa.
(3)Bốn ơn: dịch từ hai chữ “tứ ân 四恩”, gồm ơn cha mẹ, ơn chúng sinh, ơn quốc vương và ơn Tam bảo. Bởi vì cha mẹ có ơn sinh thành dưỡng dục; chúng sinh đã từng là cha mẹ ta nhiều đời, hoặc là những người thợ xây nhà, thợ may, nông phu… giúp ta có cái ăn cái mặc hằng ngày; quốc vương có ơn trị quốc, giúp chúng ta thường được yên ổn để có thể chuyên tâm tu tập; nhờ Phật mở đạo mà ta có thể dễ bề tu học, nhờ Pháp mà ta có thể tu trì và chứng ngộ, nhờ hội chúng chỉ lối và tiếp nối đạo mạch mà ta ngày nay mới có cơ hội biết đến giáo lý.
(4)Gặp lúc rồng còn ẩn nơi vực được giảng thuyết ở đầu quẻ Càn: giai đoạn nhà vua (hay nhà chúa) đang còn là thái tử (hoặc thế tử), đang trong thời gian tu dưỡng, học tập và chưa lên nắm quyền chính thức.
(5)Đến khi ánh dương thêm sáng, quẻ Ly rạng rỡ ở ngôi cao: nhà vua đã chính thức lên ngôi (ngồi trên ngôi vua, tựa ánh mặt trời, hướng về cung Ly - phương Nam - mà cai trị thiên hạ).
(6)Tự thừa 寺丞: chức phó của một cơ quan cấp Tự dưới thời phong kiến, là người giúp việc cho vị trưởng quan (Tự khanh) và coi sóc công việc hàng ngày của cơ quan đó.
(7)Thiền uyển kế đăng (禅苑継灯): có lẽ chính là bộ sách Ngự chế Thiền điển thống yếu kế đăng lục (御製禪典統要繼燈錄). Bộ sách này do Sa-môn Như Sơn ở chùa Hồng Phúc soạn thuật, và do người đệ tử là Sa-di Tính Chúc tham gia đọc duyệt, các Sa-di Tính Phái và Tính Hiển tham gia vào việc so sánh, đối chiếu; cho nên ở đây, có lẽ tác giả của bài văn bia là Hải Tại đã đồng nhất việc Tính Chúc tham gia đọc duyệt với việc ngài là người tham gia biên soạn bộ sách, cùng với thầy mình là Hòa thượng Như Sơn (mà trong văn bia này ghi tên ngài là Hòa thượng Tịnh Giác). Ở đây, ta có thể hiểu rằng, cuốn sách này được nhà vua giao cho một nhóm Tăng sĩ biên soạn, và Tính Chúc là một trong những vị Tăng tham gia vào việc biên soạn đó, chứ không phải chỉ có Như Sơn là tác giả duy nhất của tác phẩm.
(8)Tám khoa: dịch từ hai chữ “bát khoa 八科”, chưa rõ nghĩa.
(9)Ba giáo: dịch từ hai chữ “tam giáo 三敎”, là ba truyền thống đạo học lớn tại Đông Á, gồm Nho giáo, Phật giáo, và Đạo giáo.
(10)Thọ tàng 壽藏: ngôi mộ, bảo tháp được xây dựng trước cho chính mình khi còn sống. Người xưa, nhất là các vị vua chúa hay cao tăng, thường cho xây mộ từ sớm để chuẩn bị cho ngày viên tịch. Tuy thế, có lẽ trong văn cảnh này, cũng có thể hiểu rằng đây là nghi thức nhập quan; bởi vì nếu theo như đoạn văn, ta thấy rằng cho đến lúc nhập thọ tàng, thì Tính Chúc mới mất chưa được trọn ngày, và như thế thì chưa thể nhập tháp ngay, bởi vì chuyện tang ma thuở xưa là chuyện rất hệ trọng, không thể chỉ được tổ chức một cách sơ sài như thế được, trong khi từ lúc mất cho đến khi nhập tháp chưa đủ một ngày, thì không thể có đủ thời gian để báo tin cho môn đồ tứ chúng, cử hành các nghi thức tang sự, phúng viếng… được. Cho nên chúng tôi nghiêng về nhận định, cho rằng việc nhập thọ tàng ở đây nên được hiểu là nhập quan.
(11)Hải Tại 海在: theo Thích Đồng Dưỡng trong bài viết Hành trạng Thiền sư Tính Chúc Đạo Chu, thì hiện chúng ta còn hai tư liệu đáng tin cậy ghi chép về vị thiền sư này. Đó là một bản sắc phong lập năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749) cho Trần Văn Chức tự là Hải Tại, quê ở xã Đống Nhuyễn, huyện Phú Xuyên, được ban cho chức Tăng chính; bản sắc phong đó vẫn còn được treo ở tổ đường của chùa Hòe Nhai, Hà Nội. Tư liệu thứ hai là tấm bia đá ở tháp Thiệu Long, chùa Bằng, thôn Bình Vọng. Bia tháp cho biết Thiền sư Hải Tại có tên hiệu là Trí Hiệp. Lúc đầu xuất gia với Hòa thượng Tịnh Giác, sau lại y vào tổ Bản Lai Tính Chúc và kế thừa dòng pháp của vị này. Ta không biết sư viên tịch năm nào, nhưng bia tháp của sư thì được tạo lập vào ngày mùng 1 tháng Đinh Hợi năm Ất Mão thuộc hoàng triều niên hiệu Cảnh Thịnh năm thứ 3 (1795).
(12)Hải Lượng 海量: chưa rõ hành trạng.
Tài liệu tham khảo chính
Nguyễn Hữu Sử, Khảo cứu về Thiền sư Thích Tính Chúc - Đạo Chu (1698-1775), link: https://chuaxaloi.vn/thong-tin/khao-cuu-ve-thien-su-thich-tinh-chuc-dao-chu-1698-1775/2581.html.
Ngự chế Thiền điển thống yếu kế đăng lục (御製禪典綂要繼燈錄), bản in năm 1907, bản lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu AC.158.
Phạm Văn Tuấn, 2015, Khảo luận về Đệ tam Tổ phái Tào Động Việt Nam: Như Sơn Thiền sư (1681-1737), link: https://chuaxaloi.vn/thong-tin/khao-luan-ve-de-tam-to-phai-tao-dong-viet-nam/2584.html.
Phan Văn Các & Claudine Salmon et al., 1998, Văn khắc Hán Nôm Việt Nam tập 1: Từ Bắc thuộc đến thời Lý, École française d’Extrême-Orient & Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
Thích Đồng Dưỡng, 2016, Hành trạng Thiền sư Tính Chúc Đạo Chu, link: http://vietlandmarks.com/upload/html/cc8d0f574a02e8099e11331263d4981f.html.
Thích Đồng Dưỡng, 2016, Sử liệu về Thiền sư Như Sơn, link: http://phatgiaonamdinh.vn/pgvn/nhan-vat/su-lieu-ve-thien-su-nhu-son.html.
(NSGN 361)











