Hiệp định VIFTA: Đòn bẩy hợp tác công nghệ Việt Nam – Israel
VIFTA mở ra cơ hội kết hợp thế mạnh công nghệ Israel với năng lực sản xuất Việt Nam, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao vị thế doanh nghiệp trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Ngày 28/10, Tạp chí Công Thương tổ chức Tọa đàm “Từ hợp tác công nghệ đến phát triển chuỗi giá trị: Phát huy vai trò của VIFTA trong nâng cao năng lực sản xuất của Việt Nam” nhằm làm rõ tiềm năng hợp tác Việt Nam – Israel trong lĩnh vực công nghệ, đầu tư và sản xuất; đồng thời đề xuất giải pháp khai thác hiệu quả Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Israel (VIFTA) góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng sự tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào thị trường khu vực, toàn cầu.

Ông Lê Thái Hòa, Tham tán Thương mại, phụ trách Thương vụ Việt Nam tại Israel chia sẻ tại toạ đàm
Ông Lê Thái Hòa, Tham tán Thương mại, phụ trách Thương vụ Việt Nam tại Israel cho biết: Israel là quốc gia khởi nghiệp, lấy khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực phát triển. Dù hạn chế về diện tích, dân số và tài nguyên thiên nhiên, Israel đã xây dựng hệ sinh thái công nghệ có tính kết nối toàn cầu, thu hút trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) của hơn 400 tập đoàn đa quốc gia; trong đó, có Intel, Microsoft, Apple và Google. Israel có thế mạnh về công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ sinh học và năng lượng mới.
Theo ông Lê Thái Hòa, đây là những lĩnh vực mở ra nhiều tiềm năng hợp tác với Việt Nam. Trong nông nghiệp công nghệ cao và quản lý nguồn nước, Việt Nam có nhu cầu tái cơ cấu ngành theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu, trong khi Israel có kinh nghiệm về tưới nhỏ giọt, cảm biến độ ẩm, nông nghiệp chính xác và mô hình canh tác tiết kiệm tài nguyên.
Trong lĩnh vực khoa học công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo, Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm của Israel trong phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp, thương mại hóa kết quả nghiên cứu, xây dựng vườn ươm doanh nghiệp cũng như ứng dụng AI, phần mềm và an ninh mạng. Đối với công nghiệp điện tử, linh kiện bán dẫn và thiết bị công nghệ, thế mạnh của Israel về linh kiện bán dẫn tiên tiến, thiết bị điện tử chuyên dụng và giải pháp tự động hóa giúp Việt Nam nâng cao hàm lượng công nghệ trong sản xuất, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Bên cạnh đó, hợp tác phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và lao động kỹ thuật cũng là hướng đi đáng chú ý. Việt Nam có nhu cầu đào tạo, nâng cao tay nghề và kinh nghiệm thực tiễn cho lực lượng lao động, trong khi Israel có thế mạnh về đào tạo gắn với thực hành trong lĩnh vực kỹ thuật, xây dựng và nông nghiệp tiên tiến.
Về đầu tư, đến nay, Israel đã đầu tư khoảng 155 triệu USD vào khoảng 45 dự án tại Việt Nam, tập trung vào các lĩnh vực như bất động sản, du lịch, xử lý nước thải và thông tin viễn thông. Trong khi đó, Việt Nam đã đầu tư trên 78 triệu USD sang Israel, chủ yếu trong các dự án nghiên cứu công nghệ mới và đầu tư mạo hiểm. Hoạt động đầu tư giữa hai bên hiện chủ yếu thông qua hình thức đầu tư tài chính và mua cổ phần tại doanh nghiệp của nhau.
Ở góc độ doanh nghiệp Israel, ông Chen Peretz, Tham tán Thương mại, Trưởng Văn phòng Kinh tế Israel tại Việt Nam chia sẻ mức độ quan tâm của doanh nghiệp Israel với thị trường Việt Nam đang ngày càng gia tăng. Bên cạnh hoạt động thương mại thông thường, hai bên cần hướng tới những mô hình hợp tác sâu rộng, dài hạn và thực chất hơn.
Thực tế, một số doanh nghiệp Israel đã sử dụng đội ngũ công nghệ thông tin tại Việt Nam để phát triển sản phẩm, trong khi những doanh nghiệp khác lựa chọn Việt Nam làm địa điểm sản xuất nhờ nguồn nhân lực có tay nghề. Tuy nhiên, mục tiêu đặt ra là kết hợp cả hai hướng đi gồm doanh nghiệp Israel cùng đối tác Việt Nam nghiên cứu, phát triển sản phẩm, tận dụng lợi thế sản xuất tại Việt Nam và đưa sản phẩm phục vụ thị trường trong nước cũng như xuất khẩu sang các thị trường khu vực và toàn cầu.

Quang cảnh toạ đàm “Từ hợp tác công nghệ đến phát triển chuỗi giá trị: Phát huy vai trò của VIFTA trong nâng cao năng lực sản xuất của Việt Nam”
Ông Chen Peretz nhấn mạnh, VIFTA là bước khởi đầu thuận lợi để hiện thực hóa mục tiêu này. Dù vậy, để khai thác đầy đủ tiềm năng thị trường Việt Nam, doanh nghiệp hai nước cần thêm thời gian, sự kiên trì và nỗ lực thúc đẩy hợp tác, qua đó mở rộng cơ hội vượt ra ngoài hoạt động mua bán hàng hóa đơn thuần.
Cùng đó, để công nghệ AI hay nông nghiệp công nghệ cao phát huy hiệu quả tại Việt Nam, doanh nghiệp Israel cần tìm được đối tác địa phương có năng lực, am hiểu thị trường và điều kiện sản xuất. Đây là cơ sở quan trọng để điều chỉnh, bản địa hóa sản phẩm và phần mềm, bảo đảm phù hợp với đặc thù của Việt Nam.
Theo ông Chen Peretz, Israel đang triển khai mô hình trang trại trình diễn trồng dưa chuột hữu cơ tại Việt Nam nhằm kiểm chứng hiệu quả công nghệ trong điều kiện canh tác, thổ nhưỡng và khí hậu thực tế. Thay vì chỉ giới thiệu công nghệ, việc chứng minh khả năng ứng dụng thực tiễn và điều chỉnh giải pháp theo nhu cầu sở tại sẽ giúp doanh nghiệp Israel nâng cao khả năng thành công tại thị trường Việt Nam.
Ông Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế chỉ rõ: Giá trị của VIFTA không chỉ nằm ở việc mở rộng thị trường, giảm thuế quan mà còn ở cơ hội kết hợp thế mạnh công nghệ, đổi mới sáng tạo của Israel với năng lực sản xuất, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Việt Nam.
Tuy nhiên, cần phân biệt giữa mua bán thiết bị, phần mềm với hợp tác phát triển năng lực công nghệ.

Ông Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế phân tích về giá trị của Hiệp định VIFTA
Nếu mua công nghệ chủ yếu giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hợp tác nghiên cứu, cải tiến và phát triển công nghệ sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ, phát triển sản phẩm mới và giảm phụ thuộc vào nguồn cung nước ngoài. Vì vậy, VIFTA cần được nhìn nhận như công cụ chiến lược để nâng cao năng lực sản xuất chứ không chỉ là hiệp định mở cửa thị trường.
Theo ông Lê Thái Hòa, hợp tác công nghệ và đầu tư giữa hai nước vẫn gặp một số rào cản, từ tâm lý e ngại của doanh nghiệp Việt Nam trước những bất ổn tại Trung Đông đến khác biệt về văn hóa kinh doanh, phương thức hợp tác, năng lực hấp thụ công nghệ và yêu cầu về pháp lý, tiêu chuẩn kỹ thuật, sở hữu trí tuệ.
Để khắc phục những hạn chế này, Thương vụ sẽ tăng cường tìm kiếm, sàng lọc và kết nối doanh nghiệp Việt Nam với đối tác Israel có công nghệ đã được kiểm chứng, đồng thời thúc đẩy hợp tác nghiên cứu giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học hai nước. Bên cạnh đó, việc cung cấp thông tin thị trường, cảnh báo rủi ro chuỗi cung ứng và hỗ trợ kết nối dự án đầu tư cũng sẽ được chú trọng.
Về định hướng thời gian tới, ông Lê Thái Hòa đề xuất việc thực thi hiệu quả VIFTA, tận dụng ưu đãi thuế quan để đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng thế mạnh của Việt Nam, đồng thời cải thiện logistics và kết nối vận tải giữa hai nước. Ngoài ra, thúc đẩy hợp tác khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực Israel có thế mạnh như AI, an ninh mạng, bán dẫn, công nghệ y tế và nông nghiệp. Trọng tâm là chuyển từ cung cấp sản phẩm công nghệ sang nghiên cứu chung, đồng phát triển, thương mại hóa và đào tạo nhân lực tại Việt Nam.
Đặc biệt, xây dựng mạng lưới kết nối doanh nghiệp, tổ chức diễn đàn chuyên gia và nghiên cứu các cơ chế tài chính linh hoạt như đồng tài trợ nghiên cứu hoặc thanh toán theo mức độ sử dụng công nghệ, giúp doanh nghiệp hai nước dễ dàng tiếp cận và ứng dụng giải pháp tiên tiến.
Để VIFTA trở thành cầu nối thực chất, ông Lê Thái Hòa cho rằng: Doanh nghiệp Việt Nam cần chuyển từ mua bán thiết bị, công nghệ đơn thuần sang hợp tác nghiên cứu, phát triển và nội địa hóa công nghệ. Hai bên cần nhân rộng mô hình ứng dụng thực tế trong nông nghiệp công nghệ cao, tự động hóa và sản xuất sạch, đồng thời tận dụng Việt Nam làm trung tâm sản xuất, bàn đạp để công nghệ Israel tiếp cận thị trường ASEAN và thị trường mà Việt Nam có FTA.
Bên cạnh đó, ông Lê Thái Hoà cũng nhấn mạnh tới vai trò hỗ trợ của Nhà nước, Đại sứ quán và Thương vụ hai nước trong tháo gỡ rào cản, kết nối đúng nhu cầu hợp tác. Với doanh nghiệp Việt Nam, điều quan trọng là chủ động tìm kiếm đối tác, sẵn sàng hợp tác sâu và chuẩn bị năng lực hấp thụ công nghệ. Bởi Israel không chỉ là nơi để mua công nghệ mà có thể trở thành đối tác cùng sáng tạo, sản xuất và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Nguồn Bnews: https://bnews.vn/hiep-dinh-vifta-don-bay-hop-tac-cong-nghe-viet-nam-israel/442388.html

