Hiệu quả quản lý phải đi cùng với bảo vệ quyền của người dân
Phát biểu thảo luận về dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi) tại Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách lần thứ Nhất sáng 29/9, nhiều đại biểu Quốc hội tán thành sự cần thiết sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Qua thực tiễn thi hành, nhiều quy định về thẩm quyền, trình tự xử lý và tổ chức thi hành quyết định đã bộc lộ vướng mắc, cần được điều chỉnh để việc xử lý vi phạm kịp thời, hiệu quả hơn. Tuy nhiên, hiệu quả quản lý phải đi cùng với việc bảo vệ quyền của người dân.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định điều hành Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách lần thứ Nhất, sáng 29/9. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN
Làm rõ thẩm quyền quyết định áp dụng
Góp ý về dự thảo luật về thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa đi cai nghiện bắt buộc, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn ĐBQH TP Hải Phòng) cho biết: Theo các Điều 90, 91 và 126 của dự thảo luật, một phần thẩm quyền hiện do Tòa án thực hiện được chuyển sang Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã được hiểu mục tiêu của đề xuất này là rút ngắn thời gian xử lý, phân định trách nhiệm rõ hơn và đáp ứng yêu cầu tổ chức chính quyền địa phương hiện nay. Nhưng chúng ta cũng cần nhìn đầy đủ tính chất của quyết định được chuyển giao.
Việc đưa một người vào cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đi cai nghiện bắt buộc không chỉ là thay đổi nơi thực hiện một thủ tục hành chính. Quyết định đó buộc họ rời môi trường sống và sinh hoạt tại một cơ sở trong thời gian dài. Vì vậy, điều cần cân nhắc trước hết là khi chuyển thẩm quyền từ Tòa án sang cơ quan hành chính, cơ chế nào sẽ bảo đảm hồ sơ được xem xét khách quan và người bị đề nghị có điều kiện thực chất để bảo vệ quyền lợi của mình?
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga cũng đề nghị cân nhắc giữ thẩm quyền của Tòa án đối với biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Đây cũng là nội dung Bộ Tư pháp đã lưu ý trong quá trình thẩm định. Nếu cơ quan soạn thảo tiếp tục đề xuất chuyển thẩm quyền, cần trình Quốc hội đánh giá tác động riêng đối với quyền của người bị áp dụng, năng lực giải quyết hồ sơ ở cấp xã và cơ chế kiểm soát quyết định sau khi ban hành.
Đối với biện pháp cai nghiện bắt buộc, yêu cầu trước mắt là bảo đảm các luật thống nhất với nhau. Dự thảo văn bản hợp nhất Luật Phòng, chống ma túy trong hồ sơ vẫn thể hiện quy định: việc đưa người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi đi cai nghiện bắt buộc do Tòa án nhân dân khu vực quyết định. Trong khi đó, cách quy định thẩm quyền tại Điều 91 của dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính chưa làm rõ giới hạn theo độ tuổi. Điều 126 cũng còn chỗ sử dụng “Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã”, chỗ sử dụng “Ủy ban nhân dân cấp xã”. Nếu không chỉnh lý ngay, người thực hiện có thể gặp vướng mắc trong việc xác định ai là người có thẩm quyền quyết định.
Đại biểu Quốc hội TP Hải Phòng cũng đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ thẩm quyền đối với từng nhóm tuổi và quy định đầy đủ ngay trong luật trình tự xem xét khi chuyển thẩm quyền. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp phải được biết căn cứ, được tiếp cận hồ sơ, được trình bày ý kiến và có cơ chế yêu cầu xem xét lại quyết định.

Đại biểu Quốc hội TP Hải Phòng Nguyễn Thị Việt Nga phát biểu. Ảnh: Doãn Tấn/TXVN
Cần có quy định bảo vệ người thứ ba
Về giới hạn áp dụng các biện pháp cưỡng chế mới tại Điều 74, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga thống nhất cao với mục tiêu sửa đổi nội dung này nhằm khắc phục tình trạng có quyết định xử phạt nhưng không thi hành được. Tuy nhiên, dự thảo bổ sung những biện pháp có phạm vi tác động rất rộng, như ngừng cung cấp điện, nước, dịch vụ Internet, viễn thông; niêm phong địa điểm; tạm hoãn xuất cảnh. “Tôi cho rằng đây là các biện pháp cần được thiết kế thận trọng, bởi nếu không, rất có thể hậu quả của chúng có thể vượt ra ngoài cá nhân, tổ chức phải chấp hành quyết định”, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga nêu ý kiến.
Chẳng hạn, việc ngừng cung cấp điện, nước tại một địa điểm có thể ảnh hưởng đến người thuê cùng tòa nhà hoặc những người cùng sử dụng hạ tầng mà không liên quan đến vi phạm. Việc ngừng dịch vụ viễn thông, Internet có thể làm gián đoạn giao dịch, học tập và hoạt động kinh doanh của nhiều chủ thể khác. Khi cân nhắc một biện pháp cưỡng chế, chúng ta phải trả lời được cả hai câu hỏi: biện pháp đó có giúp thi hành quyết định hay không, và ai sẽ phải gánh chịu tác động của nó?
Vì vậy, đại biểu tán thành việc nghiên cứu, xem xét các biện pháp mới để mang lại hiệu quả cao hơn nhưng tôi cũng đề nghị dự thảo luật quy định chặt chẽ các giới hạn áp dụng. Cần xác định rõ loại nghĩa vụ nào có thể dùng từng biện pháp cưỡng chế; điều kiện chứng minh biện pháp ít ảnh hưởng hơn không đạt hiệu quả; phạm vi, thời hạn áp dụng; người có thẩm quyền quyết định; trách nhiệm thông báo; quyền yêu cầu dừng biện pháp và cách khôi phục quyền lợi khi áp dụng sai.
Đặc biệt, phải có quy định bảo vệ người thứ ba không vi phạm bởi chính các giới hạn ấy quyết định mức độ tác động của quyền cưỡng chế nhà nước đối với người dân và doanh nghiệp.
Hai nhóm quy định được đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga nêu cùng đặt ra một yêu cầu chung, đó là quyền hạn được mở rộng đến đâu thì cơ chế kiểm soát và bảo vệ người chịu tác động phải rõ đến đó.
Đại biểu Việt Nga đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục giải trình bằng số liệu, đánh giá tác động cụ thể và chỉnh lý trực tiếp trong dự thảo luật những bảo đảm cốt lõi, để luật vừa xử lý được vi phạm, vừa giữ được sự thận trọng cần thiết khi sử dụng quyền lực nhà nước.
Đồng quan điểm về việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế trên môi trường số, đại biểu Nguyễn Thị Sửu (Đoàn ĐBQH TP Huế) đề nghị Dự thảo làm rõ hơn phạm vi tác động của biện pháp này. Điểm h khoản 2 Điều 74 bổ sung công cụ yêu cầu ngừng cung cấp dịch vụ Internet, dịch vụ viễn thông, hạ tầng số hoặc thực hiện biện pháp kỹ thuật, chặn truy cập đối với tổ chức, cá nhân không chấp hành một số quyết định xử phạt trên môi trường điện tử.
"Tôi hiểu nhu cầu thực tiễn của quy định này, nếu đối tượng vi phạm hoạt động xuyên biên giới hoặc sử dụng môi trường số để tiếp tục vi phạm, pháp luật cần có công cụ đủ hiệu lực để bảo đảm thi hành quyết định. Nhưng môi trường số có đặc điểm khác với môi trường vật lý. Một biện pháp kỹ thuật nếu xác định không chính xác có thể tác động đồng thời đến cả người vi phạm và người không vi phạm", đại biểu Nguyễn Thị Sửu phát biểu.

Đại biểu Quốc hội TP Huế Nguyễn Thị Sửu phát biểu. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN
Dự thảo đã có quy định tại khoản 5 Điều 74 theo hướng nếu vi phạm chỉ liên quan đến một bộ phận, dịch vụ hoặc hoạt động nhất định thì việc ngừng cung cấp hoặc chặn truy cập phải được giới hạn trong phạm vi tương ứng.
"Tôi đề nghị quy định rõ thêm một nguyên tắc: Biện pháp được áp dụng chỉ ở mức cần thiết để bảo đảm thi hành quyết định và phải ưu tiên biện pháp ít hạn chế hơn đối với quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan. Đồng thời, cần rà soát khoản 6 Điều 74 để bảo đảm sự thống nhất với pháp luật chuyên ngành về viễn thông, dữ liệu và an ninh mạng", đại biểu Nguyễn Thị Sửu nêu ý kiến.
Về các quy định đối với người chưa thành niên, đại biểu Nguyễn Thị Sửu đánh giá cao cách tiếp cận của Dự thảo khi xác định việc xử lý người chưa thành niên phải nhằm giáo dục, giúp đỡ sửa chữa sai lầm và bảo đảm lợi ích tốt nhất; đồng thời yêu cầu xem xét các biện pháp thay thế khi đủ điều kiện.
Tuy nhiên, nếu pháp luật đã quy định phải xem xét biện pháp thay thế thì trách nhiệm của người có thẩm quyền cũng cần được thể hiện rõ trong quyết định.
Vì vậy, đại biểu Nguyễn Thị Sửu đề nghị bổ sung vào khoản 5 Điều 118 quy định: Trường hợp người chưa thành niên có đủ điều kiện áp dụng biện pháp thay thế nhưng người có thẩm quyền không áp dụng thì phải nêu rõ lý do trong quyết định xử lý. "Theo tôi, quy định này rất cần thiết. Nó biến nguyên tắc “lợi ích tốt nhất” thành một yêu cầu cụ thể trong quá trình ra quyết định", đại biểu Nguyễn Thị Sửu phát biểu.
Đại biểu Thành phố Huế cũng đề nghị thống nhất lại thuật ngữ về thẩm quyền tại khoản 2 Điều 125. Dự thảo hiện ghi “Tòa án nhân dân” quyết định giáo dục dựa vào cộng đồng, trong khi Điều 91 đã xác định cụ thể thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực. Đối với các quy định liên quan đến người chưa thành niên và quyền con người, từng quy định về thẩm quyền cần được sử dụng chính xác và thống nhất.
Những nội dung các đại biểu Quốc vừa nêu đều hướng đến một yêu cầu chung: Luật phải tạo được đủ công cụ để xử lý vi phạm, nhưng đồng thời phải xác định rõ thẩm quyền, căn cứ, giới hạn và trách nhiệm của người thực thi..
