Hình tượng ngựa trong âm nhạc và sân khấu truyền thống

'Khớp con ngựa ngựa ô…, ngựa ô anh khớp, anh khớp cái kiệu vàng…'. Trong hành trình lớn lên của mỗi chúng ta, lời ca Lý ngựa ô đã quá quen thuộc, gần gũi đến mức dường như ai cũng đã nghe, đã thuộc để rồi đi vào ký ức và đọng lại trong trái tim người mộ điệu. Nhưng không chỉ có Lý ngựa ô, hình tượng ngựa còn xuất hiện trong cải lương, hát bội...

Các diễn giả tại Talkshow Năm Ngọ nói chuyện ngựa trong văn hóa âm nhạc truyền thống Việt Nam. Ảnh: Lâm Viên

Các diễn giả tại Talkshow Năm Ngọ nói chuyện ngựa trong văn hóa âm nhạc truyền thống Việt Nam. Ảnh: Lâm Viên

Talkshow có chủ đề Năm Ngọ nói chuyện ngựa trong văn hóa âm nhạc truyền thống Việt Nam vừa diễn ra tại Đường sách Thành phố Hồ Chí Minh giúp người yêu văn hóa hiểu thêm về hình tượng ngựa trong kho tàng âm nhạc, sân khấu truyền thống.

Từ điệu lý đến đờn ca tài tử

Tiến sĩ Nguyễn Lê Tuyên, học giả thỉnh giảng Đại học Quốc gia Úc mở đầu buổi trò chuyện bằng việc cung cấp thông tin nền tảng về lý. Theo đó, lý là một bài ca đơn giản của dân gian. Xuất xứ của lý là câu thơ lục bát hoặc song thất lục bát. Ví dụ đối với bài Ai đem con sáo sang sông/ Để cho con sáo sổ lồng bay xa. Chỉ 2 câu đó thôi đã xuất hiện vài chục dị bản Lý con sáo và mỗi bài đều khác nhau vì mang tính vùng miền. Lý là kho tàng chứng minh rõ tính vùng miền. Có thể nói, nhạc lý chứa đựng ca dao, giai điệu, mang tính phương ngữ của người Việt.

Lý ngựa ô cũng tương tự. Lời ca có những dị bản như: “ngựa ô anh khớp, anh khớp cái kiệu vàng”, hoặc có người nói rằng là “kiều vàng” (kiều = yên ngựa).

Đối với đờn ca tài tử, Nghệ sĩ Ưu tú, Thạc sĩ Huỳnh Khải, nguyên Trưởng khoa Âm nhạc truyền thống Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Điều đặc biệt là âm nhạc đờn ca tài tử kế thừa phong cách biểu diễn và sáng tác của chèo. Chèo có những làn điệu, từ làn điệu đó, người ta sáng tác lời ca khác và tùy theo tình huống để ghép lại với nhau.

“Đó cũng là lý do mà khi nghe Lý con sáo thì người ta thấy hình ảnh con sáo, nhưng khi qua Lý con sáo của đờn ca tài tử thì không thấy xuất hiện con sáo vì lời ca không còn và đã biến thể thành một bài có lời mới, cùng giai điệu, mà không có lời con sáo” - ông Nguyễn Lê Tuyên tiếp lời.

Ông Huỳnh Khải cho biết: “Như vậy, có thể thấy xuất hiện việc viết lời mới cho nhạc. Từ năm 1911 trở đi, hình thành nên lời Việt nhạc Pháp, lời Việt nhạc Tây… sau đó là lời Việt nhạc Việt. Đó là sự kế thừa của âm nhạc dân tộc truyền thống Việt Nam. Trước khi xuất hiện những ca khúc như bây giờ, những người sáng tác đầu tiên đã dùng nhạc Tây để viết lời Việt, để rồi hình thành nên sự nghiệp âm nhạc rất đồ sộ như hiện nay”.

Trở lại với Lý ngựa ô, khi chuyển sang đờn ca tài tử chúng ta có Lý ngựa ô Bắc, Lý ngựa ô Trung, Lý ngựa ô Nam gắn liền quá trình khai khẩn của cha ông. Lúc này, có sự biến dạng ở các khoản về giai điệu, lúc khoan lúc nhặt… Ông Huỳnh Khải cho biết: Chúng ta có Lý ngựa ô Huế rất nổi tiếng “ngựa ô í a ngựa ô…”. Còn Lý ngựa ô Bắc Lý ngựa ô Nam thực ra đều có xuất xứ ở Nam Bộ. Như vậy, miền Bắc không có ngựa ô. Về tiết tấu, với bài lý “Khớp con ngựa ngựa ô…” nhịp nhanh, còn qua đờn ca tài tử thì không còn nhịp nhanh như vậy. Đối với Lý ngựa ô Bắc sử dụng rất nhiều “Tiếng cong xê xàng cong xề xàng xê” tức tách ra làm 2 nhịp, tiết tấu chậm hơn… Còn Lý ngựa ô Nam rất mùi mẫn, chứ không buồn vì nỗi buồn đã rất lâu rồi và khi nhắc lại chỉ có cảm xúc trữ tình ẩn chứa trong đó.

Tiến sĩ Nguyễn Lê Tuyên nhấn mạnh: Tuy nhạc là Lý ngựa ô Nam nhưng hoàn toàn không thấy có con ngựa xuất hiện. Đây là sự chuyển mình từ nhạc lý, giai điệu lý sang đờn ca tài tử, sẽ không còn hình tượng ngựa, mà chỉ dùng giai điệu để sáng tác lời mới. Đó chính là sự độc đáo của kho tàng âm nhạc truyền thống.

Hình tượng ngựa trong nghệ thuật sân khấu

Năm 1918, cải lương ra đời và phát triển đến nay. Về hình ảnh con ngựa trong cải lương, chúng ta có nhiều bài như: Hướng mã hồi thành, Sơn Đông hướng mã…

Nghệ sĩ Khánh Minh, hậu duệ Đoàn Hát bội Ngọc Khanh (Thành phố Hồ Chí Minh) chia sẻ: Trong hát bội, con ngựa mang tính chất ước lệ. Khi ra trận, nghệ sĩ hóa thân vào nhân vật vị tướng ra chiến trường thì trước tiên phải có roi ngựa. Roi ngựa mang tính chất ước lệ, tượng trưng cho con ngựa. Đối với cảnh dẫn ngựa ra, cũng mang tính ước lệ, phải có quân sĩ, tức người nài cầm cương dẫn ngựa ra; sau đó người nghệ sĩ phải diễn như có con ngựa, dùng hình thể, vũ đạo thể hiện động tác vỗ về bờm ngựa, leo lên lưng ngựa, cưỡi ngựa, phi ngựa… Đối với cảnh ra trận, nghệ sĩ hát bội sẽ có một câu hát khách, hoặc một câu hát tẩu thể hiện sự hùng tráng, mạnh mẽ, uy vũ của vị tướng khi ra trận.

Theo các diễn giả, hát bội có đặc trưng tính ước lệ rất cao: diễn, ca, động tác đều có tính ước lệ. Riêng việc biểu diễn hình tượng con ngựa trong hát bội rất khó, bởi vì phải thể hiện được tinh tế trên sân khấu như: đem ngựa ra, leo lên ngựa, phi ngựa… Tất cả những điều đó không phải tự nhiên mà biết được. Và người thưởng thức hát bội phải hiểu thì mới thưởng thức được. Đó là điều rất quan trọng…

Thùy Trang

Nguồn Đồng Nai: https://baodongnai.com.vn/dong-nai-cuoi-tuan/202602/hinh-tuong-ngua-trong-am-nhac-va-san-khau-truyen-thong-32666f1/