Hồ sơ số 59/2026: Hơn nửa thế kỷ tìm người lính hy sinh trên cánh đồng Tư Cơ
Từ một cánh đồng mang tên dân gian đến nơi an táng ban đầu, rồi qua nhiều lần quy tập, dấu tích của người lính trẻ có thể đã bị che khuất bởi thời gian và những biến động trong công tác quản lý hồ sơ. Nhưng gia đình không tìm kiếm trong vô định. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, người con út trong gia đình họ Trịnh vẫn chưa trở về quê hương. Trong bảy anh chị em, nay chỉ còn người anh trai 87 tuổi và người chị gái 80 tuổi. Nguyện vọng của họ không chỉ là được nhìn thấy tên em mình trên một tấm bia, mà còn là biết chính xác nơi người lính đang yên nghỉ, được thắp một nén hương đúng phần mộ và, nếu điều kiện cho phép, đưa ông về an táng bên cha mẹ, tổ tiên.

Hơn 53 năm sau ngày liệt sĩ Trịnh Đình Yết hy sinh trong một trận chống càn tại cánh đồng Tư Cơ, vùng Thanh Hòa – Long Khánh – Cẩm Sơn, huyện Cai Lậy, gia đình vẫn chưa xác định được phần mộ của ông. Những thông tin do đồng đội trực tiếp chiến đấu cung cấp đã giúp người thân tìm ra nơi hy sinh, nơi an táng ban đầu và hai nghĩa trang từng tiếp nhận hài cốt. Tuy nhiên, tên người liệt sĩ quê Yên Mô vẫn chưa xuất hiện trên bất kỳ tấm bia nào. Hy vọng của gia đình giờ đây được gửi vào hồ sơ lưu trữ, ký ức đồng đội và việc giám định ADN đối với những phần mộ chưa xác định danh tính.
1- Người con út lên đường khi tuổi đời còn rất trẻ
Trong lá đơn gửi Dự án “Sáng kiến tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh” – TTU-VWAI, bà Lã Thị Lụa, sinh năm 1960, hiện trú tại phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, cho biết bà là cháu dâu của liệt sĩ Trịnh Đình Yết. Chồng bà gọi liệt sĩ là chú ruột.
Liệt sĩ Trịnh Đình Yết sinh năm 1953, quê thôn Yên Liêu Thượng, xã Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Ông là người con út trong gia đình có bảy anh chị em. Tháng 12/1970, khi mới khoảng 17 tuổi, chàng trai trẻ rời quê nhập ngũ. Một năm sau, tháng 12/1971, ông đi B, trực tiếp tham gia chiến đấu tại chiến trường miền Nam.
Theo thông tin gia đình thu thập được từ giấy báo tử, hồ sơ chính sách và lời kể của các cựu chiến binh, ông giữ cấp bậc, chức vụ A phó; đơn vị được ghi là E1, F8, QK9. Ngày 9/3/1973, ông hy sinh trong một trận chiến đấu chống càn tại huyện Cai Lậy.
Các giấy tờ chính thức và thông tin gia đình đều xác định liệt sĩ Trịnh Đình Yết sinh năm 1953. Riêng gia phả họ Trịnh Đình tại thôn Yên Liêu Thượng ghi ông sinh năm 1952. Sự khác biệt này không phải do nhầm lẫn về nhân thân, mà xuất phát từ cách tính năm theo âm lịch của người xưa: liệt sĩ sinh vào đầu năm 1953 dương lịch nhưng thời điểm ấy vẫn thuộc những ngày cuối năm 1952 âm lịch. Ở quê, các cụ thường căn cứ ngày, tháng, năm âm lịch để ghi vào gia phả. Vì vậy, khi lập hồ sơ tìm kiếm và đối chiếu dữ liệu, năm sinh chính thức của liệt sĩ cần được thống nhất là 1953; thông tin năm 1952 trong gia phả có thể sử dụng như một dữ kiện bổ trợ.
Cuộc đời người lính trẻ chỉ kéo dài hai mươi năm. Quãng đời quân ngũ của ông chưa đầy ba năm, nhưng đó là những năm tháng khốc liệt nhất, khi một thanh niên vừa rời mái nhà ở miền Bắc đã phải vượt qua những chặng đường dài để đến với chiến trường đồng bằng sông Cửu Long.

Ông bà thân sinh liệt sĩ Trịnh Đình Yết có bảy người con, liệt sĩ là con út. Cả hai người anh trai của ông đều nhập ngũ, tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trong đó, ông Trịnh Đình Khóa – anh trai liệt sĩ, cũng là bố chồng bà Lã Thị Lụa – đã được trao tặng Huy hiệu 55 năm tuổi Đảng, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huy chương Quân kỳ Quyết thắng cùng nhiều huân chương, huy chương cao quý khác.
Trong bảy anh chị em, đến nay người anh cả và ba người chị gái đã qua đời. Gia đình chỉ còn ông Trịnh Đình Khóa, năm nay 87 tuổi, và người chị gái liền kề với liệt sĩ, năm nay 80 tuổi. Cả hai đều đã ở tuổi cao, sức khỏe ngày một yếu.
Trong ký ức gia đình, Trịnh Đình Yết mãi là người em út chưa kịp trở về. Thời gian dành cho những người thân gần gũi và những nhân chứng của một thời chiến tranh đang ngày một ngắn lại. Mong muốn tìm được phần mộ người em, người chú vì thế càng trở nên khẩn thiết và day dứt.
2- Dấu tích người lính trên cánh đồng Tư Cơ
Điều quý giá trong hành trình tìm kiếm là gia đình đã gặp gỡ những cựu chiến binh từng trực tiếp chiến đấu cùng liệt sĩ Trịnh Đình Yết. Trong số đó có ông Vũ Quốc Huỳnh, thương binh, hiện sinh sống tại thôn Yên Liêu Thượng, xã Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
Theo lời kể của đồng đội, khoảng 9 giờ sáng ngày 9/3/1973, liệt sĩ Trịnh Đình Yết hy sinh trong một trận chống càn tại cánh đồng Tư Cơ, thuộc khu vực giáp ranh ba xã Thanh Hòa, Long Khánh và Cẩm Sơn, huyện Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho trước đây, sau thuộc tỉnh Tiền Giang. Sau đợt sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, địa bàn Cẩm Sơn cũ được hợp nhất vào xã Bình Phú, tỉnh Đồng Tháp.
Cánh đồng Tư Cơ là tên địa danh được chính người đồng đội từng chiến đấu cùng liệt sĩ xác nhận. Đây là dữ kiện đặc biệt quan trọng, cần được sử dụng thống nhất trong các văn bản, hồ sơ và thông báo tìm kiếm, tránh nhầm thành “Tư Cọ”.

Khi đơn vị rút đi, thi thể các liệt sĩ hy sinh trong trận chống càn được bàn giao cho chính quyền và nhân dân địa phương mai táng tại nghĩa trang Thanh Hòa, huyện Cai Lậy.
Thông tin ấy không chỉ giúp xác định tương đối rõ thời gian, hoàn cảnh và khu vực hy sinh, mà còn chỉ ra nơi an táng ban đầu. Nếu tìm được hồ sơ chôn cất, sơ đồ nghĩa trang Thanh Hòa, danh sách những người được mai táng sau trận đánh ngày 9/3/1973 hoặc lời kể của cán bộ, người dân trực tiếp tham gia mai táng, gia đình có thể thu hẹp đáng kể phạm vi tìm kiếm.
Cẩm Sơn và vùng phụ cận là địa bàn có vị trí chiến lược trong chiến tranh. Với đồng ruộng, vườn cây, sông Ba Rài cùng hệ thống kênh rạch dày đặc, nơi đây từng là căn cứ và vùng hoạt động cách mạng quan trọng. Sau Hiệp định Paris, chiến sự tại Cai Lậy vẫn diễn ra quyết liệt; các lực lượng cách mạng tiếp tục chống lại những cuộc hành quân lấn chiếm, bảo vệ địa bàn và giữ vững khu vực sông Ba Rài trong những tháng đầu năm 1973.
Bối cảnh ấy phần nào cho thấy sự khốc liệt của trận chống càn mà người lính trẻ Trịnh Đình Yết đã tham gia. Tuy nhiên, hiện chưa tìm thấy nguồn tư liệu công khai đủ độ tin cậy mô tả riêng diễn biến trận đánh tại cánh đồng Tư Cơ sáng 9/3/1973. Vì vậy, lực lượng tham chiến, diễn biến cụ thể và số lượng cán bộ, chiến sĩ hy sinh cần tiếp tục được xác minh từ lịch sử Trung đoàn 1, Sư đoàn 8; hồ sơ tác chiến của đơn vị; danh sách quân nhân hy sinh trong ngày và lời kể của các cựu chiến binh.
Sau hòa bình, hài cốt các liệt sĩ được an táng tại nghĩa trang Thanh Hòa đã được quy tập về Nghĩa trang liệt sĩ Mỹ Phước Tây và Nghĩa trang liệt sĩ Long Tiên, huyện Cai Lậy.
Năm 1997, ông Trịnh Đình Khóa cùng thương binh Vũ Quốc Huỳnh đã vào tận xã Thanh Hòa để gặp chính quyền địa phương và bà con nhân dân, tìm hiểu nơi hy sinh, an táng của liệt sĩ Trịnh Đình Yết. Tại đây, gia đình được biết hài cốt những liệt sĩ hy sinh trong trận chống càn đã được quy tập về hai nghĩa trang Mỹ Phước Tây và Long Tiên.
Từ thông tin đó, ông Trịnh Đình Khóa và ông Vũ Quốc Huỳnh tiếp tục đến Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Cai Lậy để tra cứu. Tuy nhiên, danh sách những phần mộ có tên tại cả hai nghĩa trang đều không có liệt sĩ Trịnh Đình Yết. Trong khi đó, tại đây vẫn còn nhiều phần mộ chưa xác định được danh tính.
Không dừng lại, năm 2014, người anh rể của liệt sĩ tiếp tục làm đơn gửi Phòng Chính sách, Cục Chính trị Quân khu 9; Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Tiền Giang cùng các cơ quan liên quan, đề nghị hỗ trợ xác minh nơi hy sinh, an táng và quy tập hài cốt liệt sĩ. Các cơ quan đã có công văn phúc đáp gia đình. Những văn bản này hiện vẫn được lưu giữ và là nguồn tài liệu quan trọng phục vụ quá trình tìm kiếm.
Một đợt di chuyển quy mô lớn sau đó khiến hành trình truy tìm dấu tích người lính càng trở nên phức tạp. Năm 2009, hơn 4.000 phần mộ từ Nghĩa trang liệt sĩ Mỹ Phước Tây và Nghĩa trang liệt sĩ Long Tiên được chuyển về Nghĩa trang liệt sĩ huyện Cai Lậy mới xây dựng.
Như vậy, để lần theo phần mộ liệt sĩ Trịnh Đình Yết, cần dựng lại toàn bộ hành trình an táng và quy tập: nghĩa trang Thanh Hòa – nơi an táng ban đầu sau trận chống càn ngày 9/3/1973; Nghĩa trang liệt sĩ Mỹ Phước Tây hoặc Nghĩa trang liệt sĩ Long Tiên – nơi tiếp nhận hài cốt sau hòa bình; và Nghĩa trang liệt sĩ huyện Cai Lậy – nơi tiếp nhận hơn 4.000 phần mộ từ năm 2009.
Mỗi lần quy tập, di chuyển đều có thể làm phát sinh sai lệch về họ tên, quê quán, đơn vị, vị trí mộ hoặc ký hiệu hồ sơ. Với những trường hợp được chôn cất khi chưa có đầy đủ giấy tờ, phần mộ có thể đã được ghi là “chưa biết tên” ngay từ lần quy tập đầu tiên.
Bởi vậy, những công văn phúc đáp từ năm 2014, kết quả chuyến tìm kiếm năm 1997 và lời kể của thương binh Vũ Quốc Huỳnh cần được tập hợp thành một hồ sơ thống nhất. Việc đối chiếu các nguồn tư liệu theo từng mốc thời gian có thể giúp xác định nhóm mộ được quy tập từ cánh đồng Tư Cơ và nghĩa trang Thanh Hòa.
3- Gửi hy vọng vào mẫu ADN của người thân
Trong “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”, cơ quan chức năng tại quê nhà đã lập hồ sơ và tổ chức lấy mẫu ADN thân nhân liệt sĩ Trịnh Đình Yết.
Người được lấy mẫu chính xác là ông Vũ Quang Kiệm, hiện trú tại xã Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Ông Kiệm là con trai của người chị gái cả của liệt sĩ Trịnh Đình Yết. Đây là thông tin cần được ghi thống nhất trong toàn bộ hồ sơ, thay cho thông tin nhầm lẫn trước đây về một người tên Châu ở Hà Tĩnh.
Với quan hệ huyết thống theo dòng mẹ, mẫu ADN của ông Vũ Quang Kiệm là một nguồn dữ liệu có giá trị để phục vụ đối chiếu, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Gia đình mong muốn những phần mộ chưa xác định danh tính có nguồn quy tập từ nghĩa trang Thanh Hòa, Mỹ Phước Tây và Long Tiên cũng được rà soát, phân nhóm và lấy mẫu hài cốt. Khi dữ liệu ADN thân nhân và dữ liệu ADN hài cốt cùng được đưa vào hệ thống đối chiếu, cơ hội xác định danh tính liệt sĩ sẽ trở nên rõ ràng hơn.

Tuy nhiên, ADN chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng một hồ sơ tìm kiếm được chuẩn hóa. Đối với trường hợp liệt sĩ Trịnh Đình Yết, cần ưu tiên rà soát biên bản quy tập, sơ đồ mộ chí và danh sách mộ chưa biết tên tại các địa điểm liên quan; hồ sơ quân nhân của E1, F8; danh sách liệt sĩ hy sinh ngày 9/3/1973; giấy báo tử và hồ sơ chính sách; các công văn phúc đáp gia đình năm 2014; thông tin của những đồng đội từng xác nhận nơi hy sinh; cùng danh sách cán bộ, người dân tham gia mai táng liệt sĩ tại nghĩa trang Thanh Hòa năm 1973.
Đặc biệt, gia đình cần đề nghị cơ quan quản lý nghĩa trang xác định những phần mộ nào tại Nghĩa trang liệt sĩ huyện Cai Lậy hiện nay có nguồn quy tập từ nghĩa trang Thanh Hòa; phần mộ nào được chuyển qua Mỹ Phước Tây hoặc Long Tiên; số thứ tự cũ và mới của từng mộ; vị trí ban đầu trong sơ đồ quy tập; cùng tình trạng mẫu sinh phẩm nếu phần mộ đã từng được khai quật, di chuyển hoặc lấy mẫu.
Cũng cần đặt lời kể của thương binh Vũ Quốc Huỳnh và các đồng đội trong mối liên hệ với hồ sơ tác chiến của đơn vị. Nếu xác định được danh sách cán bộ, chiến sĩ cùng hy sinh trong trận chống càn tại cánh đồng Tư Cơ, cơ quan chức năng có thể đối chiếu với từng nhóm mộ được quy tập trong cùng thời điểm và cùng khu vực.
Từ một cánh đồng mang tên dân gian đến nơi an táng ban đầu, rồi qua nhiều lần quy tập, dấu tích của người lính trẻ có thể đã bị che khuất bởi thời gian và những biến động trong công tác quản lý hồ sơ. Nhưng gia đình không tìm kiếm trong vô định. Họ đã có ngày, giờ, hoàn cảnh và khu vực hy sinh; có tên địa danh cánh đồng Tư Cơ do đồng đội trực tiếp xác nhận; có nơi chôn cất đầu tiên; có tên hai nghĩa trang từng tiếp nhận hài cốt; có lời kể của nhân chứng; có các công văn phúc đáp của cơ quan chức năng và nay đã có mẫu ADN thân nhân. Đó là những dữ kiện đủ quan trọng để mở ra một hướng xác minh chuyên sâu.
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, người con út trong gia đình họ Trịnh vẫn chưa trở về quê hương. Trong bảy anh chị em, nay chỉ còn người anh trai 87 tuổi và người chị gái 80 tuổi. Nguyện vọng của họ không chỉ là được nhìn thấy tên em mình trên một tấm bia, mà còn là biết chính xác nơi người lính đang yên nghỉ, được thắp một nén hương đúng phần mộ và, nếu điều kiện cho phép, đưa ông về an táng bên cha mẹ, tổ tiên.
Đó cũng là mong ước đã được gìn giữ qua nhiều thế hệ trong một gia đình có ba người con trai cùng lên đường tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Hai người trở về, tiếp tục sống, cống hiến và giữ gìn truyền thống gia đình; người em út Trịnh Đình Yết vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường khi tuổi đời vừa tròn hai mươi.
Gia đình bà Lã Thị Lụa tha thiết đề nghị Dự án TTU-VWAI, các cơ quan chính sách, đơn vị quân đội, cơ quan quản lý nghĩa trang, cựu chiến binh Trung đoàn 1 – Sư đoàn 8 và nhân dân vùng Thanh Hòa – Long Khánh – Cẩm Sơn cùng hỗ trợ cung cấp tư liệu.
Mỗi trang danh sách cũ, một sơ đồ quy tập, một ký hiệu trên bia mộ, một công văn còn được lưu giữ hay một ký ức trong lòng đồng đội và nhân dân đều có thể trở thành chiếc cầu nối, giúp người lính hy sinh trên cánh đồng Tư Cơ ngày 9/3/1973 được trở về với tên mình.
Hà Nội, 04/8/2026
Đặng Vương Hưng
(Thành viên của Dự án TTU-VWAI)











