Hoàn thiện bộ quy tắc FTSE Vietnam Index Series trước cột mốc mới của nâng hạng

Bộ quy tắc FTSE Vietnam Index Series 4.0 tiếp tục chuẩn hóa cách lựa chọn và duy trì cổ phiếu trong các rổ chỉ số. Những yêu cầu về thanh khoản, free-float và room ngoại nhằm bảo đảm dòng vốn quốc tế có thể mua bán, nắm giữ và tái cơ cấu danh mục thuận lợi.

Chuẩn mới trước giai đoạn mới

FTSE Russell vừa công bố phiên bản 4.0 của bộ quy tắc FTSE Vietnam Index Series, quy định cách xây dựng, lựa chọn và duy trì hệ thống chỉ số riêng dành cho thị trường chứng khoán Việt Nam. Bộ quy tắc dài 24 trang được ban hành trong tháng 8/2026, chỉ hơn một tháng sau lần cập nhật lớn trước đó.

Phần lớn thay đổi về phương pháp đã được thực hiện từ phiên bản 3.9 và tiếp tục duy trì trong phiên bản 4.0. Lần cập nhật này có thể được nhìn nhận như bước hoàn thiện hệ thống quy tắc trước khi thị trường Việt Nam bước sang giai đoạn phát triển mới sau nâng hạng.

Hệ thống FTSE Vietnam hiện gồm bốn chỉ số. FTSE Vietnam All-Share Index bao quát các doanh nghiệp vốn hóa lớn, vừa và nhỏ đáp ứng điều kiện; FTSE Vietnam All-Share FOL-adjusted Index điều chỉnh theo giới hạn sở hữu nước ngoài. FTSE Vietnam 30 Index gồm 30 doanh nghiệp Việt Nam có vốn hóa toàn phần lớn nhất, giao dịch trên HoSE và thuộc chỉ số toàn thị trường đã điều chỉnh theo giới hạn sở hữu nước ngoài. FTSE Vietnam Index lấy các cổ phiếu thuộc nhóm vốn hóa lớn của chỉ số toàn thị trường đã điều chỉnh theo giới hạn sở hữu nước ngoài và đáp ứng yêu cầu về lượng cổ phiếu nhà đầu tư nước ngoài còn có thể mua.

Phạm vi lựa chọn cũng được mở rộng. Cổ phiếu phổ thông niêm yết đầy đủ trên HoSE hoặc HNX đều có thể được xem xét, còn UPCoM chưa thuộc tập hợp đủ điều kiện.

Tuy nhiên, phạm vi rộng hơn đi cùng các yêu cầu rõ ràng hơn về khả năng đầu tư. Cổ phiếu thuộc diện cảnh báo, kiểm soát hoặc kiểm soát đặc biệt trên HoSE, hay cảnh báo và giám sát trên HNX, không đủ điều kiện tham gia chỉ số. Một cổ phiếu thành phần hiện hữu rơi vào các diện này sẽ bị loại tại kỳ rà soát tiếp theo và chỉ được xem xét trở lại sau tối thiểu 12 tháng.

Một thay đổi quan trọng là cách đo thanh khoản. Thay vì dựa nhiều vào giá trị giao dịch bình quân trong ba tháng, FTSE sử dụng trung vị khối lượng giao dịch hằng ngày theo từng tháng trong thời gian 12 tháng.

Thành phần hiện hữu phải đạt mức luân chuyển tối thiểu 0,04% lượng cổ phiếu lưu hành sau điều chỉnh free-float trong ít nhất 8/12 tháng. Với cổ phiếu chưa thuộc chỉ số, yêu cầu cao hơn, ở mức 0,05% trong ít nhất 10/12 tháng. Cổ phiếu mới chưa có đủ một năm lịch sử giao dịch phải có tối thiểu 20 phiên trước ngày chốt dữ liệu và đáp ứng mức 0,05%. Việc sử dụng trung vị và kéo dài thời gian đánh giá giúp hạn chế ảnh hưởng của một vài phiên giao dịch đột biến, qua đó phản ánh sát hơn khả năng duy trì thanh khoản.

Tỷ lệ tự do chuyển nhượng (free-float) và room ngoại tiếp tục là những yếu tố quan trọng. Cổ phiếu có tỷ lệ tự do chuyển nhượng từ 5% trở xuống bị loại khỏi diện xem xét. Riêng với FTSE Vietnam Index, cổ phiếu có lượng sở hữu nước ngoài còn khả dụng từ 2% trở xuống không đủ điều kiện; muốn được xem xét trở lại, tỷ lệ này phải tăng lên trên 10%.

Để cổ phiếu Việt đi xa cùng dòng vốn quốc tế

Bên cạnh vốn hóa, yêu cầu về thanh khoản, free-float và khả năng tiếp cận của nhà đầu tư nước ngoài cũng được FTSE đặt cùng. Sau khi sàng lọc các điều kiện cơ bản, cổ phiếu được xếp theo vốn hóa thị trường toàn phần từ lớn xuống nhỏ. Nhóm cộng dồn chiếm 98% vốn hóa của toàn bộ thị trường đủ điều kiện sẽ tạo thành tập hợp dùng để xây dựng chỉ số.

FTSE áp dụng các ngưỡng gia nhập và bị loại khác nhau đối với từng nhóm vốn hóa - Nguồn: FTSE Russell.

FTSE áp dụng các ngưỡng gia nhập và bị loại khác nhau đối với từng nhóm vốn hóa - Nguồn: FTSE Russell.

Ngưỡng gia nhập chỉ số là 98%. Tuy nhiên, sẽ có sự khác nhau giữa ngưỡng gia nhập và ngưỡng bị loại. Giả sử, một cổ phiếu mới muốn gia nhập nhóm vốn hóa lớn phải nằm trong vùng cộng dồn 68% vốn hóa, trong khi cổ phiếu thành phần hiện hữu chỉ bị loại khỏi nhóm nếu rơi qua mốc 72%. Hai ngưỡng tương ứng với nhóm vốn hóa vừa là 86% và 92%; với nhóm vốn hóa nhỏ là 98% và 101%.

Sự khác biệt giữa ngưỡng gia nhập và ngưỡng bị loại giúp duy trì tính ổn định của chỉ số, giúp các quỹ mô phỏng có thể hạn chế giao dịch không cần thiết, giảm tác động giá và chi phí tái cơ cấu. Tương tự, cổ phiếu mới muốn vào FTSE Vietnam Index phải có vốn hóa có thể đầu tư lớn hơn 1% tổng vốn hóa chỉ số trước kỳ rà soát, trong khi thành phần hiện hữu chỉ bị loại nếu tỷ lệ này giảm xuống dưới 0,5%. Tỷ trọng mỗi cổ phiếu được giới hạn ở mức 15%.

Với FTSE Vietnam 30, doanh nghiệp có thể được bổ sung nếu vươn lên hạng 20 hoặc cao hơn về vốn hóa toàn phần, nhưng thành phần hiện hữu chỉ bị loại khi tụt xuống hạng 41 hoặc thấp hơn. Chỉ số giới hạn tỷ trọng mỗi cổ phiếu ở mức 10%.

Các kỳ rà soát đầy đủ diễn ra vào tháng 3 và tháng 9, trong khi tháng 6 và tháng 12 chủ yếu kiểm tra những cổ phiếu mới xuất hiện. Lịch trình cố định cùng các “vùng đệm” giúp doanh nghiệp, nhà đầu tư và các quỹ chủ động hơn trước mỗi kỳ cơ cấu.

Tùng Linh

Nguồn Thời báo Tài chính: https://thoibaotaichinhvietnam.vn/hoan-thien-bo-quy-tac-ftse-vietnam-index-series-truoc-cot-moc-moi-cua-nang-hang-202781.html