Hoàn thiện chính sách phát triển công nghiệp trọng điểm

Nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý thống nhất về phát triển công nghiệp trọng điểm, tạo cơ sở pháp lý cho việc lựa chọn, phát triển và quản lý các ngành, sản phẩm, công nghệ, dịch vụ và năng lực công nghiệp có ý nghĩa chiến lược đối với quốc gia, Bộ Công Thương xây dựng dự án Luật Công nghiệp trọng điểm.

Thiếu hành lang pháp lý xác định trọng tâm phát triển

Trong những năm qua, Quốc hội đã ban hành nhiều văn bản luật liên quan đến ngành công nghiệp để cải thiện hoàn thiện môi trường sản xuất, kinh doanh nói chung, điều chỉnh một số ngành công nghiệp đặc thù nói riêng; Chính phủ cũng đã ban hành chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp của cả nước, nhiều chiến lược và quy hoạch phát triển đối với các ngành, lĩnh vực công nghiệp quan trọng.

Theo dự thảo Luật Công nghiệp trọng điểm: Nhà nước áp dụng các cơ chế phát triển công nghiệp trọng điểm nhằm thúc đẩy hình thành năng lực công nghiệp quốc gia. (Ảnh minh họa: Nguyệt Anh/nhandan.vn)

Theo dự thảo Luật Công nghiệp trọng điểm: Nhà nước áp dụng các cơ chế phát triển công nghiệp trọng điểm nhằm thúc đẩy hình thành năng lực công nghiệp quốc gia. (Ảnh minh họa: Nguyệt Anh/nhandan.vn)

Bên cạnh kết quả đạt được, vẫn còn có những hạn chế trong quá trình xây dựng, ban hành, thực thi chính sách, pháp luật về phát triển công nghiệp và công nghiệp trọng điểm; trong đó có những chính sách ưu đãi, hỗ trợ, khuyến khích phát triển một số ngành công nghiệp nền tảng, mũi nhọn, ưu tiên.

Theo Bộ Công Thương, hiện nay một số lĩnh vực cụ thể như hóa chất, công nghiệp công nghệ số, điện lực, khai thác khoáng sản, dầu khí, công nghiệp quốc phòng và an ninh… đã có luật điều chỉnh: Luật Hóa chất; Luật Công nghiệp công nghệ số; Luật Điện lực; Luật Dầu khí... Nhưng đến nay chưa có một đạo luật quy định các chính sách đặc thù phát triển nhiều ngành công nghiệp nền tảng, mũi nhọn, ưu tiên theo định hướng của Đảng như: cơ khí chế tạo, luyện kim, vật liệu, công nghiệp sinh học, dệt may, da giày, công nghiệp hỗ trợ…, dẫn đến chưa có một cơ sở pháp lý thống nhất, bền vững cho các ngành này. Chính sách, chiến lược phát triển các ngành công nghiệp còn dàn trải, chưa có quy định xác định các ngành công nghiệp trọng điểm, then chốt cũng như chính sách đặc thù để thúc đẩy phát triển các ngành này.

Bên cạnh đó, chính sách, chiến lược phát triển các ngành công nghiệp còn có điểm chưa thực sự phù hợp với yêu cầu thực tế, thiếu các nguồn lực để thực hiện có hiệu quả. Cụ thể, sau gần 20 năm triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ của Chương trình cơ khí trọng điểm theo Quyết định số 186/2002/QĐ-TTg và Quyết định số 10/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, mới có 11 dự án được xem xét hưởng chính sách tín dụng ưu đãi 9.978,18 tỷ đồng; trong đó, mới có 3 dự án ký được hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) 374 tỷ đồng (bằng 3,75% số vốn được xem xét) và thực tế mới giải ngân được 60,75 tỷ đồng (16% hợp đồng đã ký).

Thực tế cũng cho thấy, pháp luật hiện hành về ưu đãi, hỗ trợ phát triển cho các ngành công nghiệp trọng điểm còn rời rạc, hiệu lực pháp lý thấp. Đến nay, chưa có quy định của pháp luật về chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển mang tính hệ thống, khoa học do thiếu sự phân tách chuỗi giá trị trong từng hệ sinh thái, cụm liên kết ngành, phân ngành công nghiệp. Cơ chế, chính sách cho ứng dụng, chuyển giao, cải tiến, đổi mới quy trình công nghệ sản xuất trong các ngành công nghiệp - đặc biệt là các công nghệ then chốt trong các ngành công nghiệp trọng điểm còn thiếu tính bền vững, không phù hợp với đặc thù của các hoạt động sản xuất công nghiệp. Chưa có quy định khuyến khích ứng dụng, chuyển đổi, cải tiến quy trình và công nghệ sản xuất trong các ngành công nghiệp. Chính sách tài chính cho phát triển các ngành công nghiệp còn dàn trải, nhiều bất cập, dẫn đến không phân bổ nguồn lực tài chính quốc gia hợp lý để phát triển các ngành trọng tâm, trọng điểm có tính chất nền tảng. Hiện các ưu đãi tài chính dàn trải theo rất nhiều lĩnh vực ưu đãi đầu tư và địa bàn ưu đãi đầu tư và thiếu hợp lý dẫn đến nguồn lực vốn đầu tư phát triển công nghiệp thiếu cân đối; doanh nghiệp công nghiệp gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận các ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước.

Ngoài các bất cập nêu trên, Bộ Công Thương cho rằng, hệ thống pháp luật hiện hành chưa có cơ chế phát triển thị trường đối với sản phẩm, công nghệ và dịch vụ công nghiệp đầu tiên; chưa có cơ chế khách hàng đầu tiên, đơn hàng đầu tiên, thử nghiệm có kiểm soát và chia sẻ rủi ro trong giai đoạn thương mại hóa sản phẩm. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến nhiều sản phẩm, công nghệ và dịch vụ công nghiệp do doanh nghiệp Việt Nam nghiên cứu, phát triển hoặc làm chủ được công nghệ vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc đưa vào sử dụng thực tế và mở rộng quy mô sản xuất công nghiệp.

Để hoàn thiện khuôn khổ pháp lý thống nhất về phát triển công nghiệp trọng điểm, thúc đẩy phát triển nền công nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung, việc xây dựng Luật Công nghiệp trọng điểm là rất cần thiết.

“Đòn bẩy” cho công nghiệp trọng điểm

Với mục tiêu nhằm hình thành cơ chế phát triển năng lực công nghiệp quốc gia, tạo lập cơ chế phát triển doanh nghiệp Việt Nam, phát triển chuỗi cung ứng trong nước, nâng cao tỷ lệ giá trị gia tăng tạo ra tại Việt Nam; hình thành các doanh nghiệp có năng lực dẫn dắt ngành, làm chủ công nghệ và tham gia cạnh tranh quốc tế... dự thảo Luật dành riêng một chương quy định về cơ chế phát triển công nghiệp trọng điểm.

Theo đó, dự thảo Luật quy định, Nhà nước áp dụng các cơ chế phát triển công nghiệp trọng điểm nhằm thúc đẩy hình thành năng lực công nghiệp quốc gia, nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế, phát triển doanh nghiệp Việt Nam, phát triển chuỗi cung ứng trong nước và bảo đảm an ninh quốc gia, an ninh năng lượng, an ninh công nghệ, an ninh dữ liệu và an ninh chuỗi cung ứng. Cơ chế phát triển công nghiệp trọng điểm được áp dụng trên cơ sở mức độ đóng góp đối với ngành công nghiệp trọng điểm, năng lực công nghiệp quốc gia, giá trị gia tăng trong nước, phát triển doanh nghiệp Việt Nam, phát triển chuỗi cung ứng trong nước và làm chủ công nghệ.

Bên cạnh đó, dự thảo Luật quy định, Nhà nước hỗ trợ các chương trình, dự án và hoạt động có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hình thành năng lực công nghiệp quốc gia. Nhà nước hỗ trợ trực tiếp bằng ngân sách nhà nước hoặc Quỹ Công nghiệp Chiến lược Quốc gia đối với các nhiệm vụ phát triển năng lực công nghiệp quốc gia theo quy định của Chính phủ.

Đáng chú ý, để phát triển thị trường cho sản phẩm, dịch vụ công nghiệp trọng điểm, dự thảo Luật quy định: Nhà nước áp dụng các cơ chế phát triển thị trường đối với sản phẩm, dịch vụ thuộc ngành công nghiệp trọng điểm. Cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và các dự án thuộc ngành công nghiệp trọng điểm có trách nhiệm sử dụng sản phẩm, dịch vụ được sản xuất, cung cấp hoặc làm chủ tại Việt Nam; trường hợp không sử dụng phải có giải trình. Nhà nước áp dụng cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ, lựa chọn nhà đầu tư, lựa chọn nhà cung cấp hoặc các hình thức phù hợp khác đối với sản phẩm, công nghệ, dịch vụ và năng lực công nghiệp có ý nghĩa chiến lược đối với quốc gia. Nhà nước áp dụng cơ chế bảo đảm thị trường, cam kết thị trường tối thiểu, đặt hàng, mua sắm công, cam kết sản lượng tối thiểu, cam kết doanh thu tối thiểu hoặc các cơ chế phát triển thị trường khác đối với sản phẩm, công nghệ, dịch vụ chiến lược.

Việc dự thảo Luật quy định nhiều cơ chế, chính sách để phát triển công nghiệp trọng điểm cho thấy bước chuyển rất lớn từ hỗ trợ dàn trải sang tập trung nguồn lực cho những lĩnh vực có khả năng tạo đột phá về năng lực công nghiệp quốc gia. Qua đó, bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn lực nhà nước, hình thành các động lực tăng trưởng mới, nâng cao năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Song Hà

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/hoan-thien-chinh-sach-phat-trien-cong-nghiep-trong-diem-10424602.html