Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu và kinh doanh dịch vụ ô tô
Bộ Công Thương vừa ban hành Văn bản hợp nhất số 27/VBHN-BCT ngày 10/4/2026, hợp nhất các quy định về điều kiện sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu và kinh doanh dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng ô tô, trên cơ sở Nghị định số 116/2017/NĐ-CP và các văn bản sửa đổi, bổ sung liên quan.

Văn bản hợp nhất số 27/VBHN-BCT hợp nhất các quy định về điều kiện sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu và kinh doanh dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng ô tô, trên cơ sở Nghị định số 116/2017/NĐ-CP và các văn bản sửa đổi, bổ sung liên quan
Việc hợp nhất nhằm hệ thống hóa đầy đủ các quy định hiện hành, bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật, đồng thời tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và cơ quan quản lý trong quá trình thực thi, không làm thay đổi nội dung chính sách đã được ban hành trước đó.
Xác định rõ phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng
Nghị định quy định điều kiện đối với doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu ô tô và doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng ô tô, áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân có liên quan. Đồng thời, văn bản cũng xác định rõ các trường hợp không thuộc phạm vi điều chỉnh như một số loại xe phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh; xe phục vụ nghiên cứu khoa học; xe không tham gia giao thông công cộng hoặc hoạt động trong phạm vi hẹp… nhằm bảo đảm phù hợp với tính chất đặc thù của từng loại phương tiện.
Đối với hoạt động sản xuất, lắp ráp ô tô, doanh nghiệp phải được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, lắp ráp ô tô trước khi đưa cơ sở vào hoạt động. Điều kiện đặt ra bao gồm yêu cầu về quyền sử dụng hợp pháp đối với nhà xưởng, dây chuyền sản xuất, lắp ráp; trang thiết bị kỹ thuật; đồng thời phải xây dựng và duy trì hệ thống quản lý chất lượng bảo đảm kiểm soát toàn bộ quá trình sản xuất. Trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận được quy định cụ thể, trong đó cơ quan có thẩm quyền thực hiện kiểm tra, đánh giá thực tế tại cơ sở sản xuất trước khi cấp, qua đó bảo đảm doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định.
Quản lý chặt chẽ chất lượng ô tô nhập khẩu gắn với điều kiện của doanh nghiệp
Đối với ô tô nhập khẩu, Nghị định quy định việc kiểm tra chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường theo từng trường hợp cụ thể. Ô tô chưa qua sử dụng được quản lý chất lượng theo quy định hiện hành; trong khi đó, ô tô đã qua sử dụng phải được kiểm tra về an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường trước khi lưu hành. Cùng với đó, điều kiện bảo đảm chất lượng của doanh nghiệp nhập khẩu cũng được đặt ra và phải được duy trì trong suốt quá trình hoạt động.
Đáng chú ý, việc đánh giá điều kiện bảo đảm chất lượng đối với doanh nghiệp nhập khẩu không chỉ thực hiện tại thời điểm cấp phép mà còn được thực hiện theo chu kỳ, với tần suất đánh giá tối đa là 36 tháng. Quy định này nhằm bảo đảm doanh nghiệp duy trì ổn định các điều kiện đã được cấp, đồng thời tăng cường hiệu quả quản lý trong quá trình hoạt động nhập khẩu ô tô.

Ràng buộc trách nhiệm bảo hành, bảo dưỡng và điều kiện kinh doanh dịch vụ
Nghị định dành một chương quy định điều kiện kinh doanh dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng ô tô, trong đó yêu cầu doanh nghiệp phải có cơ sở bảo hành, bảo dưỡng đáp ứng các điều kiện về mặt bằng, nhà xưởng, trang thiết bị, dụng cụ, nhân lực và hệ thống quản lý chất lượng. Các cơ sở này phải được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện trước khi đi vào hoạt động và phải duy trì các điều kiện trong suốt quá trình kinh doanh.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu ô tô có trách nhiệm thực hiện bảo hành, bảo dưỡng đối với sản phẩm do mình cung cấp, đồng thời phải thực hiện việc triệu hồi ô tô khi phát hiện lỗi kỹ thuật theo quy định. Đây là yêu cầu bắt buộc nhằm bảo đảm quyền lợi của người tiêu dùng cũng như an toàn kỹ thuật trong quá trình sử dụng phương tiện.
Tăng cường cơ chế kiểm tra, giám sát và phân công trách nhiệm quản lý
Nghị định quy định rõ cơ chế kiểm tra, giám sát đối với các doanh nghiệp đã được cấp giấy chứng nhận. Theo đó, hoạt động kiểm tra định kỳ được thực hiện theo chu kỳ 24 tháng đối với doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô; đồng thời, cơ quan quản lý có thể tiến hành kiểm tra đột xuất khi cần thiết, trên cơ sở thông tin phản ánh hoặc yêu cầu quản lý nhà nước. Trường hợp doanh nghiệp không duy trì điều kiện kinh doanh hoặc vi phạm quy định, cơ quan có thẩm quyền có thể áp dụng các biện pháp xử lý như tạm dừng hiệu lực hoặc thu hồi giấy chứng nhận, giấy phép đã được cấp.
Về trách nhiệm quản lý nhà nước, Nghị định xác định Bộ Công Thương là cơ quan chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan trong tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát và hướng dẫn triển khai. Các bộ, ngành khác có trách nhiệm xây dựng, ban hành hoặc phối hợp ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đồng thời thực hiện quản lý theo lĩnh vực được phân công, bảo đảm sự phối hợp đồng bộ trong quản lý hoạt động của ngành ô tô.
Việc ban hành văn bản hợp nhất góp phần chuẩn hóa hệ thống quy định pháp luật trong lĩnh vực sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu và kinh doanh dịch vụ ô tô, giúp các quy định được tiếp cận một cách đầy đủ, rõ ràng và thuận tiện hơn. Trên cơ sở đó, các điều kiện kinh doanh, yêu cầu về chất lượng, cơ chế kiểm tra, giám sát và trách nhiệm của doanh nghiệp tiếp tục được thực hiện theo quy định hiện hành, góp phần bảo đảm chất lượng sản phẩm, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường trong lĩnh vực ô tô.











