Hoàn thiện Luật Phát triển công nghiệp văn hóa: Bài 3 - Tạo giá trị kinh tế, nguồn thu và sức mạnh mềm quốc gia
Đóng góp ý kiến vào dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, các đại biểu Quốc hội đánh giá cao nỗ lực xây dựng dự án Luật, hướng tới thể chế hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị, đồng thời khai thác giá trị văn hóa để tạo nguồn lực kinh tế và sức mạnh mềm quốc gia.
Văn hóa không chỉ tạo ra giá trị tinh thần mà còn có khả năng trở thành nguồn lực kinh tế quan trọng
Tại Kỳ họp 2, Quốc hội khóa XVI, thảo luận ở Tổ về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, đại biểu Nguyễn Phương Thủy, Đoàn ĐBQH TP. Hà Nội bày tỏ đồng tình với sự cần thiết ban hành Luật, đồng thời đánh giá cao nỗ lực của Chính phủ trong việc chuẩn bị dự án.
Theo đại biểu, thực tiễn đã xuất hiện nhiều điểm sáng của công nghiệp văn hóa, từ phim Việt Nam thu hút đông đảo khán giả, các chương trình âm nhạc quy mô lớn đến sản phẩm thiết kế, thủ công truyền thống gắn với du lịch.
Những kết quả bước đầu cho thấy văn hóa không chỉ tạo ra giá trị tinh thần mà còn có khả năng trở thành nguồn lực kinh tế quan trọng.

Đại biểu Nguyễn Phương Thủy, Đoàn ĐBQH TP. Hà Nội. Ảnh: Trần Huấn
Đại biểu cho rằng, việc xây dựng Luật vào thời điểm này vừa nhằm kịp thời thể chế hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị, vừa đáp ứng yêu cầu thực tiễn, tạo khuôn khổ pháp lý để khơi thông nguồn lực và phát triển thị trường văn hóa.
Nêu ý kiến, đại biểu Trần Văn Lâm, Đoàn ĐBQH tỉnh Bắc Ninh tán thành sự cần thiết ban hành Luật, đồng thời ghi nhận tinh thần chủ động, trách nhiệm của Chính phủ, Bộ VHTTDL và các cơ quan liên quan trong quá trình xây dựng dự án.
Theo đại biểu, dù thời gian chuẩn bị ngắn, phạm vi điều chỉnh rộng, liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực và có nhiều chính sách mới, hồ sơ dự án Luật đã được chuẩn bị công phu, có nghiên cứu, đánh giá thực trạng, rà soát hệ thống pháp luật và tiếp thu các ý kiến góp ý.

Đại biểu Trần Văn Lâm, Đoàn ĐBQH tỉnh Bắc Ninh. Ảnh: Quốc hội
Đại biểu đánh giá dự thảo đã thể hiện sự đổi mới trong tư duy về vị trí, vai trò của văn hóa đối với phát triển đất nước. Văn hóa không chỉ được nhìn nhận là nền tảng tinh thần, mục tiêu và động lực phát triển mà còn được tiếp cận từ góc độ khai thác giá trị, tạo ra giá trị kinh tế, nguồn thu và sức mạnh mềm quốc gia.
Thực tế, nhiều lĩnh vực như điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, quảng cáo, thiết kế, trò chơi điện tử, thủ công mỹ nghệ, du lịch văn hóa và sản phẩm nội dung số ngày càng gắn với hoạt động đầu tư, kinh doanh và thị trường.
Tuy nhiên, các lĩnh vực này vẫn gặp không ít khó khăn về vốn, thị trường, nhân lực, hạ tầng, quyền sở hữu trí tuệ và khả năng thương mại hóa sản phẩm sáng tạo. Trong khi đó, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu điều chỉnh theo từng lĩnh vực riêng lẻ, chưa đáp ứng đầy đủ tính liên ngành, liên kết của hoạt động công nghiệp văn hóa.
Đại biểu ghi nhận dự thảo đã bước đầu tiếp cận những vấn đề này thông qua các chính sách về phát triển hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, sử dụng quyền sở hữu trí tuệ trong quan hệ tín dụng, đầu tư mạo hiểm, thu hút nhân tài và phát triển thị trường. Đây là những chính sách có tính kiến tạo, thể hiện sự chuyển đổi tư duy từ quản lý sang tạo điều kiện khơi thông, hỗ trợ nguồn lực phát triển.
Kết nối các nguồn lực đang phân tán thành một hệ sinh thái phát triển
Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa gồm 8 chương, 39 điều, tập trung vào những nhóm chính sách như: Hỗ trợ sáng tạo và khai thác quyền sở hữu trí tuệ; phát triển nhân lực; xây dựng hạ tầng; hình thành hệ sinh thái và thị trường công nghiệp văn hóa; cơ chế tài chính, hỗ trợ và ưu đãi đầu tư.
Cách tiếp cận này hướng đến việc bổ sung những quy định còn thiếu, tháo gỡ điểm nghẽn của pháp luật hiện hành, thay vì lặp lại các chính sách đã được điều chỉnh trong những luật chuyên ngành.
Đây là bước chuyển quan trọng về tư duy xây dựng chính sách. Bởi công nghiệp văn hóa không vận hành trong phạm vi riêng của một ngành, mà cần sự kết nối giữa chủ thể sáng tạo, doanh nghiệp, nhà đầu tư, đơn vị phân phối, thị trường tiêu dùng và các cơ chế bảo vệ quyền lợi hợp pháp.
Một tác phẩm có thể mang giá trị văn hóa, nhưng để hình thành giá trị kinh tế bền vững, còn cần cơ chế tổ chức sản xuất, phân phối, khai thác và tái đầu tư.
Bên cạnh đánh giá tích cực, nhiều đại biểu cũng góp ý, đề xuất nhiều giải pháp tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật, bảo đảm các chính sách được thiết kế vừa có tính kiến tạo, vừa đủ rõ ràng để triển khai trong thực tế.

Chương trình biểu diễn nghệ thuật xiếc - rối "Mơ Show" của Trung tâm Nghệ thuật TP.HCM đã thu hút hàng chục ngàn khán giả
Đại biểu Trần Văn Lâm nhấn mạnh yêu cầu xác định đúng bản chất của công nghiệp văn hóa, trong đó văn hóa và sức sáng tạo là nguồn lực cốt lõi, còn công nghệ, quản trị và thị trường là phương thức để phát triển, khai thác giá trị.
Đại biểu Nguyễn Phương Thủy lưu ý một số vấn đề khi thiết kế các cơ chế về sở hữu trí tuệ trong dự án Luật. Bên cạnh đó, cần chứng minh vì sao cần cơ chế riêng cho công nghiệp văn hóa và làm rõ hệ quả pháp lý của từng cơ chế mới.
Những đề xuất này có ý nghĩa thực tiễn bởi các ngành công nghiệp văn hóa đang phát triển nhanh, trong khi cách thức tạo ra, phân phối và khai thác sản phẩm ngày càng đa dạng. Nếu quyền đối với tác phẩm không được xác định rõ, hoặc giá trị tài sản trí tuệ khó được nhận diện và định giá, khả năng huy động vốn, phân chia lợi ích và tái đầu tư cho sáng tạo sẽ bị hạn chế.
Dự thảo Luật tiếp cận vấn đề thông qua các quy định về phần mềm phục vụ sáng tạo, nền tảng số hỗ trợ quyền sở hữu trí tuệ, sử dụng quyền sở hữu trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa và nâng cao năng lực xác định giá trị tài sản trí tuệ. Đây là những cơ chế hướng đến việc hỗ trợ chủ thể sáng tạo quản lý thông tin về tác phẩm, bảo vệ quyền và từng bước khai thác tài sản trí tuệ trong hoạt động kinh tế.
Tuy nhiên, việc thiết kế cơ chế pháp lý mới cần đi cùng khả năng vận hành trên thực tế. Dữ liệu lưu vết quá trình sáng tạo có thể hỗ trợ việc chứng minh quá trình hình thành tác phẩm, nhưng không thể mặc nhiên thay thế việc xác định chủ thể quyền hoặc giải quyết tranh chấp.
Tương tự, việc định giá tài sản trí tuệ có thể cung cấp căn cứ cho các bên tham khảo, song khả năng sử dụng tài sản đó để bảo đảm khoản vay còn phụ thuộc vào tình trạng pháp lý của quyền, khả năng khai thác, dòng tiền và đánh giá rủi ro của tổ chức tín dụng.
Trong môi trường số, một tác phẩm có thể được sao chép, chỉnh sửa và khai thác trên nhiều nền tảng, ở nhiều quốc gia. Vì vậy, muốn sản phẩm sáng tạo trở thành tài sản kinh tế có giá trị ổn định, cần xác định rõ chủ thể quyền, phạm vi khai thác, quyền sử dụng và cơ chế phân chia doanh thu.
Đây cũng là cơ sở để thấy các quy định về sở hữu trí tuệ trong dự thảo không chỉ mang ý nghĩa bảo vệ tác giả, mà còn liên quan trực tiếp đến khả năng hình thành thị trường và chuỗi giá trị của sản phẩm văn hóa.

Điện ảnh là một trong các ngành công nghiệp văn hóa được tập trung phát triển trong giai đoạn tới. Ảnh: TH
Thực tiễn điện ảnh Việt Nam cho thấy tiềm năng kinh tế của sản phẩm văn hóa đã hiện hữu. Doanh thu phòng vé năm 2025 đạt gần 5.600 tỉ đồng, phim Việt chiếm khoảng 62% thị phần. Kết quả này cho thấy các sản phẩm được hình thành từ câu chuyện, chất liệu và năng lực sáng tạo trong nước có thể thu hút thị trường và tạo ra doanh thu đáng kể.
Tuy nhiên, doanh thu phòng vé mới phản ánh một phần giá trị kinh tế của điện ảnh. Để phát triển bền vững, ngành còn cần cơ chế đầu tư, bảo vệ bản quyền, phân phối, khai thác các quyền liên quan và tái đầu tư vào những dự án tiếp theo.
Khi một tác phẩm có thể được khai thác qua nhiều hình thức và nền tảng, việc bảo vệ, xác định và quản lý quyền sở hữu trí tuệ càng trở thành điều kiện quan trọng để giá trị sáng tạo được duy trì trong toàn bộ vòng đời sản phẩm.
Một vấn đề khác được đại biểu Trần Văn Lâm đặt ra là cần làm rõ khái niệm công nghiệp văn hóa, tránh cách hiểu chỉ tập trung vào việc sản xuất hàng hóa hoặc thương mại hóa các hoạt động văn hóa. Đây không đơn thuần là vấn đề câu chữ. Khái niệm là căn cứ để xác định phạm vi điều chỉnh của luật, đối tượng thụ hưởng chính sách và lĩnh vực được ưu tiên hỗ trợ.
Theo hướng tiếp cận của dự thảo, công nghiệp văn hóa được nhìn nhận như một ngành kinh tế gắn với văn hóa, sáng tạo, công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ. Các nhóm chính sách về hệ sinh thái, hạ tầng, nhân lực, thị trường và hỗ trợ đầu tư tiếp tục cụ thể hóa cách tiếp cận này.
Dù vậy, quá trình hoàn thiện cần bảo đảm rằng giá trị văn hóa, nghệ thuật và xã hội không bị thu hẹp thành giá trị doanh thu; công nghệ và quản trị là phương tiện nâng cao năng lực sản xuất, phân phối, tiếp cận công chúng, chứ không thể thay thế tài năng và sức sáng tạo của con người.
Thực tế phát triển điện ảnh cũng cho thấy hai mặt của quá trình này. Doanh thu phòng vé tăng trưởng tạo thêm động lực đầu tư, nhưng không phải mọi tác phẩm đều đạt hiệu quả thương mại như nhau.
Thị trường có sự phân hóa, mức độ thành công phụ thuộc vào chất lượng sáng tạo, khả năng tiếp cận khán giả, chiến lược sản xuất và phát hành.
Vì thế, phát triển công nghiệp văn hóa không thể chỉ dựa vào những kết quả doanh thu nổi bật, mà cần một hệ sinh thái có khả năng hỗ trợ nhiều chủ thể sáng tạo, tạo điều kiện thử nghiệm ý tưởng mới và bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia.

Việc xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ nhằm bổ sung một khuôn khổ pháp lý cho lĩnh vực kinh tế mới, mà còn hướng đến việc kết nối các nguồn lực đang phân tán thành một hệ sinh thái phát triển. Ảnh: Trần Huấn
Việc xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa vì vậy không chỉ nhằm bổ sung một khuôn khổ pháp lý cho lĩnh vực kinh tế mới, mà còn hướng đến việc kết nối các nguồn lực đang phân tán thành một hệ sinh thái phát triển.
Những góp ý của đại biểu Quốc hội, cùng với sự ghi nhận đối với nỗ lực chuẩn bị dự án của cơ quan soạn thảo, là cơ sở quan trọng để tiếp tục hoàn thiện các quy định theo hướng rõ phạm vi, khả thi và phù hợp thực tiễn.
Khi dự thảo được tiếp tục rà soát, tiếp thu và hoàn thiện, yêu cầu đặt ra là mỗi chính sách phải giải quyết được một điểm nghẽn cụ thể, đồng thời bảo đảm sự hài hòa giữa mục tiêu phát triển kinh tế với việc gìn giữ giá trị văn hóa, khuyến khích sáng tạo và bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ thể.
Đó cũng là điều kiện để công nghiệp văn hóa từng bước phát triển thành một lĩnh vực kinh tế có sức cạnh tranh, đóng góp thực chất vào tăng trưởng và lan tỏa giá trị Việt Nam.



