Hoàn thiện pháp luật về EPR: Nâng cao hiệu quả, minh bạch và thúc đẩy tái chế
Ngày 11/8/2026 Hội thảo “Định hướng hoàn thiện hệ thống Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) tại Việt Nam” được tổ chức tại Hà Nội nhằm thảo luận, góp ý hoàn thiện chính sách, nâng cao hiệu quả thực hiện EPR.
Hội thảo do Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), thông qua Chương trình Đối tác Hành động Quốc gia về Nhựa tại Việt Nam (NPAP) và Mạng lưới Kinh tế Tuần hoàn Việt Nam (CE Hub) đồng phối hợp tổ chức. Sự kiện có sự tham dự của Cục Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đại diện các cơ quan quản lý, đối tác phát triển, viện nghiên cứu, hiệp hội, doanh nghiệp, đơn vị thu gom, tái chế...
Đề xuất lộ trình bỏ hình thức đóng góp tài chính để hoàn thành trách nhiệm tái chế trong thực hiện EPR
Diễn ra trong bối cảnh Việt Nam đang sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các văn bản hướng dẫn thi hành (trong đó tiếp tục hoàn thiện chính sách thực hiện EPR là một nội dung quan trọng), Hội thảo là cơ hội nhìn lại thực tiễn trong triển khai EPR tại Việt Nam. Tham khảo kinh nghiệm quốc tế về EPR Hội thảo đã tập trung thảo luận các giải pháp, góp ý hoàn thiện chính sách xây dựng hệ thống thực hiện EPR cho Việt Nam hiệu quả, minh bạch và phù hợp hơn với điều kiện thực tế.
EPR là một công cụ chính sách quan trọng thúc đẩy chuyển đổi từ mô hình quản lý chất thải truyền thống sang kinh tế tuần hoàn, trong đó trách nhiệm của nhà sản xuất, nhập khẩu đối với sản phẩm và bao bì được xem xét trong toàn bộ vòng đời, từ thiết kế, lựa chọn vật liệu và tiêu dùng đến thu gom, tái chế sau sử dụng.
Phát biểu khai mạc Hội thảo, ông Tăng Thế Cường, Cục trưởng Cục Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhấn mạnh: “EPR không nên chỉ được nhìn nhận đơn thuần là một nghĩa vụ tài chính của nhà sản xuất mà phải là cơ chế tạo động lực để doanh nghiệp thay đổi cách thiết kế sản phẩm, lựa chọn vật liệu, tổ chức thu gom, tái chế và đầu tư vào các giải pháp kinh tế tuần hoàn.”

Ông Tăng Thế Cường, Cục trưởng Cục Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phát biểu tại sự kiện
Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong thiết lập và triển khai EPR. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy cơ chế này cần tiếp tục được hoàn thiện để hoạt động hiệu quả, minh bạch hơn và tạo động lực mạnh hơn cho thị trường thu gom và tái chế. Định hướng thực hiện EPR được Cục Môi trường đưa ra trong dự thảo hướng đến các mục tiêu tăng cường vai trò của khối tư nhân trong thực hiện trách nhiệm EPR, song song với đó nhà nước đóng vai trò kiến tạo và đưa ra khung thực hiện.
Một trong những thay đổi quan trọng được đề xuất trong thực hiện EPR tại dự thảo Luật là đưa ra lộ trình bỏ hình thức đóng góp tài chính để hoàn thành trách nhiệm tái chế, mà quy đinh nhà sản xuất, nhập khẩu phải trực tiếp tổ chức thu hồi, tái chế sản phẩm, bao bì sau sử dụng hoặc thực hiện thông qua đơn vị tái chế hoặc tổ chức trách nhiệm nhà sản xuất (PRO).
Phát biểu khai mạc Hội thảo, bà Francesca Nardini, Phó Trưởng Đại diện Thường trú UNDP tại Việt Nam, cho rằng việc Việt Nam thiết lập khuôn khổ EPR là một bước quan trọng hướng tới nền kinh tế tuần hoàn. Thách thức tiếp theo là xây dựng một hệ thống EPR có khả năng vận hành hiệu quả, bền vững và tối ưu theo vận động của thị trường. Bà Francesca nhấn mạnh: “Xét cho cùng, EPR không chỉ là việc tuân thủ quy định và các mục tiêu tái chế. EPR còn là thay đổi cách tài nguyên được luân chuyển trong nền kinh tế – tạo ra giá trị từ những vật liệu nếu không được tái chế sẽ trở thành chất thải; khuyến khích đầu tư và đổi mới sáng tạo, đồng thời xây dựng một Việt Nam tuần hoàn và sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn.”

Bà Francesca Nardini, Phó Trưởng Đại diện Thường trú UNDP tại Việt Nam phát biểu tại Hôi thảo.
Không tồn tại một mô hình thực hiện EPR duy nhất phù hợp với mọi nơi
Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về những yếu tố then chốt để xây dựng một hệ thống EPR hiệu quả tại Hội thảo, TS. Fritz Flanderka, Giám đốc Điều hành Reclay Group, nhấn mạnh “ sẽ không có một mô hình EPR phổ quát nào, vì mỗi hệ thống lại được thiết kế phù hợp với điều kiện địa phương. Mặc dù nguyên tắc cốt lõi vẫn là chuyển trách nhiệm về chất thải sang cho doanh nghiệp, nhưng quá trình triển khai sẽ có sự khác biệt đáng kể. Trong đó mỗi hệ thống đều có những ưu và nhược điểm riêng, một số mô hình đã chứng minh được hiệu quả, trong khi những mô hình khác lại có xu hướng ngược lại. Theo đó cách thức thiết kế và triển khai cần phù hợp với điều kiện thể chế, thị trường và năng lực thu gom, tái chế của từng quốc gia.
Theo TS. Fritz Flanderka để thành công, Nhà nước cần có tầm nhìn rõ ràng về hệ thống này, từ đó xây dựng luật để dẫn tới đạt được tầm nhìn tương lai đó. Với vai trò xác định mục tiêu và thiết kế khung các quốc gia phải có tầm nhìn rõ về loại hệ thống quản lý chất thải muốn xây dựng cho đất nước. Tiếp đến, luật pháp cần phân định rõ trách nhiệm, đảm bảo mọi bên liên quan đều phải chịu trách nhiệm giải trình về phần việc của mình trong quá trình thực hiện tầm nhìn đó. TS. Fritz Flanderka cũng khuyến nghị các quy định pháp luật về EPR không rõ ràng sẽ tạo kẽ hở để các doanh nghiệp trốn tránh trách nhiệm, vì thế cần cân nhắc thận trọng và thấu đáo các yếu tố cần được đưa vào trong thiết kế, hoàn thiện EPR.

Khuyến nghị từ kinh nghiệm quốc tế cho thấy PRO nên được định hình là trung tâm của hệ thống EPR
Một nội dung được thảo luận sâu tại sự kiện là vai trò của Tổ chức trung gian được ủy quyền (PRO). Kinh nghiệm quốc tế cho thấy PRO có thể giữ vai trò trung tâm trong việc tổ chức thực hiện EPR, kết nối nhà sản xuất với hệ thống thu gom, phân loại và tái chế. Để hệ thống hoạt động hiệu quả, trách nhiệm của PRO, các yêu cầu tối thiểu và cơ chế giám sát cần được xác định rõ ràng.
Phù hợp với thực tiễn, kinh nghiệm quốc tế, dự thảo chính sách của Việt Nam đang xem xét bổ sung các yêu cầu cụ thể đối với PRO về năng lực tổ chức thu gom, năng lực tài chính, hệ thống quản lý dữ liệu điện tử và hạch toán riêng. Tại Hội thảo, PRO cũng được thảo luận theo hướng là Tổ chức được ủy quyền, thay mặt các nhà sản xuất, nhập khẩu chịu trách nhiệm trước pháp luật về tổ chức, điều phối hoạt động thu hồi, vận chuyển, phân loại và chuyển giao sản phẩm, bao bì cho đơn vị tái chế; quản lý, xác nhận khối lượng tái chế; thực hiện kê khai, báo cáo và kiểm toán độc lập. Mục tiêu là tạo cơ sở pháp lý để các PRO hoạt động chuyên nghiệp, minh bạch và có thể kiểm soát.
Bên cạnh đó, Hội thảo cũng đã thảo luận về lộ trình điều chỉnh tỷ lệ tái chế bắt buộc theo từng giai đoạn, phù hợp với sự phát triển của năng lực thu gom, công nghệ tái chế và điều kiện thực tiễn. Cách tiếp cận này nhằm tạo tính dự báo và giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong xây dựng kế hoạch đầu tư và thực hiện trách nhiệm tái chế trong dài hạn.
Từ kinh nghiệm quốc tế và quá trình đồng hành hỗ trợ tại Việt Nam, UNDP cũng nhấn mạnh bốn lĩnh vực cần được xem xét trong quá trình tiếp tục hoàn thiện và thực thi EPR gồm: tăng cường vai trò chủ động của doanh nghiệp; thúc đẩy hình thành các PRO làm trung tâm của hệ thống EPR; từng bước nâng cao mục tiêu tái chế theo mức độ sẵn sàng của từng loại vật liệu và điều kiện thực tế; đồng thời bảo đảm quá trình chuyển đổi mang tính bao trùm, ghi nhận và tạo điều kiện để lực lượng lao động tự do rác thải trong hoạt động thu gom, tái chế tham gia và hưởng lợi.
Sau các phần trình bày về kinh nghiệm quốc tế và định hướng hoàn thiện chính sách EPR của Việt Nam, Hội thảo dành phần lớn thời gian cho thảo luận theo các nhóm sản phẩm và bao bì thuộc trách nhiệm EPR, gồm bao bì; điện tử và pin; phương tiện giao thông, lốp và dầu nhớt. Kết quả các phiên thảo luận được báo cáo và tổng hợp tại phiên toàn thể nhằm xác định những khó khăn trong thực tiễn triển khai và đề xuất các giải pháp cho quá trình hoàn thiện chính sách.












