Hoàn thiện pháp luật về môi trường và biển: Rõ trách nhiệm, khơi thông nguồn lực
Thảo luận tại hội trường, đại biểu Quốc hội tỉnh Nghệ An đề xuất hoàn thiện quy định về bảo vệ môi trường và quản lý biển, từ trách nhiệm thu gom chất thải, kiểm soát đổ thải đến quản trị dữ liệu, nghiên cứu khoa học và xác lập quyền sử dụng biển ổn định về pháp lý hơn.

Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) và dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường. Ảnh: Viết Chung
Chiều 6/11, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) và dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An tham dự phiên thảo luận có Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Nguyễn Khắc Thận; cùng các đại biểu trong đoàn.

Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An dự phiên thảo luận tại hội trường. Ảnh: Lâm Hiển
Rõ trách nhiệm vệ sinh công cộng, quản lý chặt chất thải xây dựng
Góp ý dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, ĐBQH Trần Nhật Minh - Đoàn Nghệ An tập trung vào vệ sinh công cộng, đổ thải xây dựng và thu gom chất thải tái chế.
Dự thảo bổ sung khoản 39 Điều 3, xác định vệ sinh công cộng là hoạt động thu gom, xử lý rác thải và duy trì vệ sinh tại khu vực công cộng. Đại biểu cho rằng định nghĩa chưa đề cập trách nhiệm cộng đồng, cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân, trong khi khoản 1 Điều 59 Luật Bảo vệ môi trường hiện hành đã quy định các chủ thể này có trách nhiệm bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh công cộng.

Đại biểu Trần Nhật Minh - Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An phát biểu thảo luận. Ảnh: Lâm Hiển
Theo đại biểu, bảo vệ môi trường nơi công cộng là trách nhiệm chung, không chỉ của Nhà nước. Cụm từ này chưa thể hiện rõ tính quy phạm, ý nghĩa pháp lý. Vì vậy, đề nghị không bổ sung khoản giải thích từ ngữ này, tránh trùng lặp, mâu thuẫn với Điều 59.
Về chất thải xây dựng, dự thảo cấm đổ đất, đá, bê tông, gạch, cát, bùn và chất trơ khác ra địa điểm như đường, sông, suối, kênh, rạch hoặc nguồn nước mặt. Đại biểu nhận xét cách liệt kê địa điểm cấm chưa bao quát thực tiễn, có thể khiến người thực hiện hiểu rằng nơi không được nêu thì có thể đổ thải.
Đại biểu đề nghị sửa điểm d khoản 5 Điều 64 theo hướng vật chất này phải đổ tại địa điểm do UBND cấp tỉnh quy định, qua đó xác định rõ nơi tiếp nhận và tạo căn cứ giám sát, xử lý vi phạm.

Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An dự phiên thảo luận tại hội trường. Ảnh: Lâm Hiển
Đối với Điều 75 về chất thải rắn sinh hoạt, dự thảo yêu cầu phân loại riêng chất thải có khả năng tái sử dụng, tái chế, nhưng điểm a khoản 4 chỉ quy định chuyển giao cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu, chưa làm rõ cơ chế thu gom, tập kết và địa điểm tiếp nhận. Đại biểu cho rằng chỉ yêu cầu người dân phân loại mà không bố trí nơi tập kết, đơn vị thu gom thì quy định khó khả thi.
Đại biểu đề nghị giao UBND cấp xã tổ chức thu gom, tập kết phù hợp từng khu dân cư. Nếu không có người tiếp nhận để tái chế trong thời hạn nhất định, chất thải phải chuyển cho cơ sở có chức năng thu gom, vận chuyển, xử lý. UBND cấp xã quy định địa điểm và cách thức chuyển giao, bảo đảm yêu cầu môi trường.
Kiểm soát khoảng trống dữ liệu, minh bạch nghiên cứu khoa học biển
Góp ý dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú - Đoàn Nghệ An đánh giá dự thảo đã yêu cầu hoạt động điều tra xuất phát từ nhu cầu, kế thừa kết quả có sẵn và phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trên cùng vùng biển. Kết quả phải được nghiệm thu, chia sẻ, cập nhật vào cơ sở dữ liệu quốc gia, nhưng vẫn cần cơ chế ngăn điều tra trùng lặp, lãng phí.
Đại biểu đề nghị trước khi phê duyệt nhiệm vụ mới, cơ quan có thẩm quyền phải rà soát dữ liệu Nhà nước đã có, khả năng sử dụng và nội dung còn thiếu. Chỉ điều tra bổ sung khi dữ liệu chưa đáp ứng yêu cầu về phạm vi, chất lượng, độ chính xác hoặc tính cập nhật.

Đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú - Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An phát biểu thảo luận. Ảnh: Viết Chung
Từ kinh nghiệm quốc tế, đại biểu Tú đề nghị chuẩn hóa, truy xuất nguồn và phân định trách nhiệm: cơ quan tạo lập chịu trách nhiệm về phương pháp, độ chính xác, thời điểm tạo lập; cơ quan chuyên ngành cập nhật. Bộ Nông nghiệp và Môi trường chuẩn hóa, tích hợp, liên thông và khai thác. Dữ liệu cần rõ nguồn gốc, sai số, thời điểm cập nhật, phục vụ dự báo và Bản sao số đại dương.
Về nghiên cứu khoa học biển của tổ chức, cá nhân nước ngoài, đại biểu đánh giá dự thảo đã phân biệt nghiên cứu với khảo sát phục vụ dự án thương mại. Tuy nhiên, cần làm rõ đối tượng được áp dụng cơ chế chấp thuận mặc nhiên tại điểm c khoản 1 Điều 17.
Dự thảo dùng cụm từ “tổ chức, cá nhân nước ngoài” khi dẫn chiếu Điều 252 Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Theo đại biểu, chủ thể được áp dụng cơ chế này là quốc gia hoặc tổ chức quốc tế có thẩm quyền, không phải mọi doanh nghiệp, tổ chức tư nhân hay cá nhân nước ngoài.
Luật cần quy định rõ quốc gia hoặc tổ chức quốc tế có thẩm quyền được áp dụng chấp thuận mặc nhiên khi nghiên cứu tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam; doanh nghiệp, tổ chức tư nhân, cá nhân nước ngoài vẫn phải được chấp thuận bằng văn bản.

Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An dự phiên thảo luận tại hội trường. Ảnh: Lâm Hiển
Đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú đề nghị chỉ đình chỉ hoặc chấm dứt khi vi phạm nghiêm trọng, làm thay đổi nội dung nghiên cứu hoặc không được khắc phục đúng hạn; vi phạm có thể khắc phục cần được yêu cầu sửa trước.
Đối với Điều 18, đại biểu đồng tình chỉ yêu cầu xin ý kiến trước khi công bố hoặc chuyển giao kết quả nghiên cứu trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa nếu kết quả liên quan trực tiếp đến thăm dò, khai thác tài nguyên. Phạm vi này nên giới hạn ở dữ liệu xác định vị trí, trữ lượng, chất lượng, công nghệ khai thác tài nguyên.
Dữ liệu khoa học cơ bản khác, nếu không thuộc bí mật nhà nước, không ảnh hưởng quốc phòng, an ninh và không trực tiếp phục vụ khai thác, cần được tạo điều kiện công bố, chia sẻ. Đại biểu đề nghị ấn định thời hạn chấp thuận công bố kết quả nghiên cứu.
Xác lập quyền tài sản, giữ ổn định ranh giới khu vực biển
ĐBQH Hoàng Minh Hiếu - Đoàn Nghệ An tập trung góp ý quyền sử dụng, tranh chấp và ranh giới khu vực biển. Dự thảo đã ghi nhận quyền chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn, thế chấp quyền sử dụng khu vực biển nhưng chưa làm rõ bản chất pháp lý. Đại biểu đề nghị bổ sung khoản 13 Điều 3, xác định đây là “quyền tài sản có điều kiện, có thời hạn” theo luật.
Đối với thế chấp, tổ chức tín dụng cần rõ thời điểm phát sinh hiệu lực đối kháng và thứ tự ưu tiên thanh toán. Cơ chế đăng ký còn thiếu thống nhất giữa Nghị định số 99/2022/NĐ-CP, Điều 35 dự thảo và nghị định hướng dẫn.

Đại biểu Hoàng Minh Hiếu - Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An phát biểu thảo luận. Ảnh: Viết Chung
Đại biểu đề nghị đăng ký thế chấp tại một cơ quan thống nhất, hiệu lực đối kháng tính từ thời điểm đăng ký; thông tin được cập nhật vào hồ sơ hải chính và công khai. Bên nhận thế chấp có thể đề xuất đơn vị đủ năng lực tạm quản lý công trình khi được chấp thuận, không làm chuyển giao quyền sử dụng biển.
Về điểm g khoản 3 Điều 25, dự thảo cho phép từ chối giao, cho thuê, đăng ký khu vực biển đang có tranh chấp. Đại biểu cho rằng chưa rõ đây là tranh chấp chủ quyền, phân định biển với quốc gia khác, tranh chấp quyền sử dụng trong nước hay xung đột chồng lấn không gian biển. Khái niệm mơ hồ làm căn cứ từ chối thủ tục có thể gây bất lợi đối ngoại, ách tắc và khiếu kiện.
Đại biểu Hoàng Minh Hiếu đề nghị nếu nói đến đối ngoại thì bỏ điểm g, tập trung tại điểm i về quốc phòng, an ninh, đối ngoại; nếu chỉ là tranh chấp quyền sử dụng trong nước, cần viết lại điểm g cụ thể.
Về ranh giới, dự thảo dùng tọa độ làm căn cứ giao, cho thuê, thu tiền, nhưng một số quy định lấy đường mép nước biển thấp nhất trung bình nhiều năm làm mốc. Nước biển dâng, xói lở có thể dịch chuyển đường mép nước, ảnh hưởng ranh giới đã giao, cho thuê hoặc đăng ký.
Đại biểu Hoàng Minh Hiếu dẫn Tuyên bố về nước biển dâng của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 24/9/2026, khẳng định có thể duy trì vùng biển đã xác lập phù hợp Công ước Luật Biển 1982.
Đại biểu đề nghị bổ sung vào Điều 19 nguyên tắc tọa độ ranh giới khu vực biển đã xác định trong quy hoạch, văn bản giao, cho thuê, đăng ký và hồ sơ hải chính không đương nhiên thay đổi do biến động tự nhiên; chỉ điều chỉnh theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Đường mép biển làm mốc phân định cần được công bố tọa độ, duy trì ổn định.
Đại biểu Hoàng Minh Hiếu đề nghị Chính phủ cập nhật pháp luật, khẳng định nước biển dâng không làm thay đổi đường cơ sở và ranh giới ngoài các vùng biển Việt Nam đã công bố phù hợp Luật Biển Việt Nam và Công ước Luật Biển 1982.


