Hoàn thiện quy định, nâng cao tính thống nhất và khả thi của pháp luật
Sáng 23/10, góp ý dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật tại Tổ 1, các ĐBQH TP Hà Nội đề nghị rà soát, hoàn thiện quy định về thí điểm chính sách, chương trình lập pháp, tham vấn chính sách và thẩm quyền ban hành văn bản. Qua đó, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan và nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành.
Bổ sung lĩnh vực dân tộc vào phạm vi không được thí điểm chính sách
Phát biểu thảo luận, ĐBQH Lê Nhật Thành nhất trí với sự cần thiết ban hành Luật Văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời đánh giá hồ sơ dự án Luật được chuẩn bị công phu, nghiêm túc, bảo đảm điều kiện trình Quốc hội xem xét.
Góp ý về quy định thí điểm chính sách tại Điều 20 của dự thảo, đại biểu cho biết, khoản 5 Điều 70 Hiến pháp năm 2013 quy định Quốc hội quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước; khoản 6 Điều 11 dự thảo Luật cũng quy định Quốc hội ban hành luật để quy định các chính sách này. Tuy nhiên, điểm b khoản 1 Điều 20 chưa đưa lĩnh vực dân tộc vào danh mục các lĩnh vực chính quyền địa phương không được ban hành văn bản quy phạm pháp luật thí điểm chính sách.

ĐBQH Lê Nhật Thành (Hà Nội) phát biểu thảo luận tại Tổ 1. Ảnh: Văn Tuyến
Đại biểu đề nghị bổ sung lĩnh vực dân tộc vào quy định này, cùng với các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại quốc gia, tôn giáo và những lĩnh vực khác liên quan trực tiếp đến chủ quyền quốc gia theo quy định của pháp luật, bảo đảm phù hợp với Hiến pháp.
Đối với nguyên tắc thí điểm chính sách tại điểm d khoản 2 Điều 20, đại biểu đề nghị bổ sung cụm từ “của dân tộc” sau cụm từ “thuần phong, mỹ tục”, bảo đảm thống nhất với các quy định pháp luật khác.
Về nguyên tắc xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật tại Điều 5, đại biểu cho rằng khoản 5 quy định yêu cầu công bằng, kịp thời, hiệu quả đối với cả ba khâu, trong khi nội dung này đã được đề cập tại khoản 9 về nguyên tắc tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật. Do đó, đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo rà soát, chỉnh lý để tránh trùng lặp, bảo đảm tính thống nhất của dự thảo Luật.
Đối với Điều 23 về thông qua Chương trình lập pháp hằng năm, đại biểu nhận thấy khoản 3 chưa có tiêu chí xác định thế nào là “luật có nội dung quan trọng cần được xem xét, thông qua tại nhiều kỳ họp”. Việc thiếu tiêu chí cụ thể có thể gây khó khăn trong áp dụng thực tiễn. Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung các tiêu chí liên quan, tạo cơ sở triển khai thống nhất sau khi Luật có hiệu lực.
Rà soát hồ sơ chính sách, phân định rõ trách nhiệm các cơ quan
Về lấy ý kiến hồ sơ chính sách và tham vấn chính sách tại Điều 27, ĐBQH Lê Nhật Thành cho rằng khoản 5 đã liệt kê lại ba loại tài liệu được quy định tại khoản 3 về hồ sơ chính sách để lấy ý kiến, tham vấn.
Đại biểu đề nghị sửa khoản 5 theo hướng dẫn chiếu đến “hồ sơ chính sách quy định tại khoản 3 Điều này”, tránh trùng lặp. Đồng thời, quy định rõ cơ quan lập đề xuất chính sách không do Chính phủ trình có trách nhiệm xin ý kiến Chính phủ; Chính phủ trả lời bằng văn bản trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ.

Các đại biểu tham gia thảo luận tại Tổ 1. Ảnh: Văn Tuyến
Liên quan đến trách nhiệm phòng ngừa, khắc phục sơ hở, bất cập trong chính sách có thể bị lợi dụng để tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đại biểu cho rằng việc giao Thanh tra Chính phủ thực hiện nhiệm vụ này phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được quy định tại Luật Thanh tra và Luật Phòng, chống tham nhũng.
Vì vậy, đại biểu đề nghị bỏ nội dung giao Bộ Công an có ý kiến về vấn đề này tại điểm d khoản 1 Điều 27, tránh trùng lặp nhiệm vụ, bảo đảm tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW về nguyên tắc “một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì thực hiện và chịu trách nhiệm chính”. Tương tự, cần rà soát, bỏ nội dung trùng lặp tại điểm c khoản 5 Điều 30 với trách nhiệm của Thanh tra Chính phủ quy định tại điểm g khoản này.
Về hiệu lực thi hành tại Điều 68, ĐBQH Lê Nhật Thành chỉ ra sự chưa thống nhất giữa khoản 7 và khoản 8. Trong khi khoản 7 quy định việc sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc thay thế các văn bản tại khoản 6 phải được thực hiện bằng văn bản quy phạm pháp luật, khoản 8 lại cho phép một số chủ thể ban hành văn bản hành chính để sửa đổi, thay thế hoặc bãi bỏ nghị quyết liên tịch.
Theo đại biểu, quy định này có thể dẫn đến trùng lặp về thẩm quyền. Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung cụm từ “trừ trường hợp quy định tại khoản 8 Điều này” vào khoản 7 Điều 68, qua đó làm rõ mối quan hệ giữa hai quy định, bảo đảm thống nhất trong quá trình áp dụng.
Bảo đảm tính thống nhất và khả thi
Góp ý dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật, ĐBQH Nguyễn Thị Thu Dung (Hà Nội) cho rằng, đối với nội dung về hệ thống và thứ bậc hiệu lực văn bản tại Điều 4, việc tinh gọn hình thức văn bản là cần thiết, giúp người dân và cơ quan quản lý thuận lợi hơn trong tra cứu. Tuy nhiên, cần giải quyết rõ mối quan hệ giữa các loại văn bản cùng bậc và hiệu lực chuyển tiếp của văn bản cũ. Đại biểu đề nghị làm rõ cơ chế áp dụng trong trường hợp các văn bản cùng thứ bậc có nội dung khác nhau; đồng thời, bổ sung phụ lục hoặc quy định chuyển tiếp về việc tiếp tục áp dụng văn bản cũ, tránh làm gián đoạn công tác quản lý.

ĐBQH Nguyễn Thị Thu Dung (Hà Nội) phát biểu thảo luận tại Tổ 1. Ảnh: Văn Tuyến
Về bảo đảm những nội dung hạn chế quyền phải do luật quy định tại Điều 5 và Điều 11, đại biểu nhận định, dự thảo nhấn mạnh việc phân biệt quy phạm pháp luật công và tư. Đặc biệt trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, những quy định về điều kiện hành nghề, cấp phép, đình chỉ và xử phạt có tác động trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân và tổ chức. Từ đó, đại biểu đề nghị ghi nhận rõ ở cấp luật nguyên tắc: việc hạn chế quyền, nghĩa vụ mới và quy định chế tài chủ yếu phải do luật quy định; không giao văn bản dưới luật tự xác lập các điều kiện hạn chế quyền vượt quá phạm vi ủy quyền.
Về tham vấn đối tượng chịu tác động tại Điều 6 và Điều 27, ĐBQH Nguyễn Thị Thu Dung cho rằng, quy trình góp ý chỉ thực sự hiệu quả khi có sự tham gia thực chất của người thi hành và người hưởng chính sách.
Đại biểu đề nghị bắt buộc xác định các nhóm chịu tác động trực tiếp của chính sách. Chẳng hạn, đối với các dự án luật trong lĩnh vực y tế, giáo dục, nhóm chịu ảnh hưởng bao gồm nhân viên y tế, người bệnh, giáo viên, học sinh, cơ sở công lập và ngoài công lập. Cùng với đó, cần công bố ma trận tiếp thu, không tiếp thu ý kiến kèm theo lý do cụ thể. Đối với những chính sách có ảnh hưởng rộng, việc tham vấn trực tiếp tại cơ sở cần được thực hiện, thay vì chỉ đăng tải dự thảo để lấy ý kiến.
Về giao quy định chi tiết và thủ tục hành chính tại Điều 8, đại biểu đánh giá, quy định tại khoản 4 về việc có điều khoản hoặc phụ lục nhận diện thủ tục hành chính là một bước tiến. Tuy nhiên, chỉ nêu tên thủ tục chưa phản ánh đầy đủ gánh nặng tuân thủ mà người dân, tổ chức phải thực hiện, như đối với hồ sơ cấp phép khám, chữa bệnh, mở ngành đào tạo hoặc công nhận văn bằng. Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung quy định về dữ liệu có thể sử dụng lại, đồng thời cấm yêu cầu nộp lại những thông tin mà cơ quan nhà nước đã có trên hệ thống chia sẻ hợp pháp.
Kiểm soát cơ chế đặc biệt, bảo đảm tính thống nhất khi áp dụng pháp luật
Về cơ chế pháp lệnh, nghị định điều chỉnh quy định của luật trong trường hợp khẩn cấp, ĐBQH Nguyễn Thị Thu Dung cho rằng, dự thảo cho phép áp dụng cơ chế đặc biệt khi Quốc hội không thể họp, với thời hạn tối đa một năm nhưng có ngoại lệ kéo dài. Vấn đề cốt lõi là phải bảo đảm nguyên tắc Quốc hội có thẩm quyền lập pháp, đồng thời giới hạn quyền lực hành pháp trong những hoàn cảnh ngoại lệ.
Đại biểu đề nghị quy định rõ tiêu chí xác định tình huống “khẩn cấp, cấp bách”; xác định danh mục những nội dung không được điều chỉnh, trong đó có quyền cơ bản, thuế và các vấn đề cốt lõi thuộc thẩm quyền của Quốc hội. Đồng thời, cần bắt buộc thực hiện việc báo cáo, thẩm tra và biểu quyết phê chuẩn tại kỳ họp gần nhất, kèm theo cơ chế tự hết hiệu lực với giới hạn rõ ràng.
Về áp dụng quy định chuyên ngành và quy định chung tại Điều 56, đại biểu nhận định, việc ưu tiên quy định chuyên ngành là hướng phù hợp. Tuy nhiên, cần thiết kế các tiêu chí cụ thể nhằm tránh tranh chấp trong áp dụng giữa luật chuyên ngành và luật chung về đầu tư, ngân sách, đấu thầu.
Về đánh giá hiệu quả sau ban hành tại Điều 65, ĐBQH Nguyễn Thị Thu Dung cho rằng, dự thảo đã xác định mục tiêu, tác động và tính khả thi, nhưng chưa quy định cụ thể chu kỳ đánh giá cũng như cách thức sử dụng kết quả đánh giá. Đây là điểm nghẽn trong quá trình thực thi được cơ quan thẩm tra nhấn mạnh. Đại biểu đề nghị thực hiện đánh giá bắt buộc sau một thời gian thi hành phù hợp với tính chất của văn bản và khi phát sinh nhiều phản ánh. Các chỉ số cần được công khai, gồm thời gian xử lý hồ sơ, chi phí tuân thủ, số vụ khiếu kiện và tình trạng áp dụng không thống nhất. Đồng thời, cần xác định thời hạn sửa đổi khi phát hiện bất cập.

Quang cảnh thảo luận tại Tổ 1. Ảnh: Văn Tuyến
Về nguồn lực và tính độc lập trong xây dựng pháp luật tại Điều 67, đại biểu cho rằng, việc xã hội hóa nguồn lực hỗ trợ nghiên cứu chính sách có những mặt tích cực, nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ để các nhóm có lợi ích trực tiếp tác động không phù hợp đến quá trình xây dựng pháp luật.
Do đó, đại biểu đề nghị quy định rõ việc công khai nguồn tài trợ, điều kiện tiếp nhận, xử lý xung đột lợi ích và cơ chế từ chối hỗ trợ gắn với yêu cầu tác động vào nội dung dự thảo. Cùng với đó, cần phát triển đội ngũ chuyên trách tại địa phương và các ngành chuyên môn, góp phần nâng cao chất lượng và bảo đảm tính độc lập trong xây dựng pháp luật.
