Hoàn thiện thể chế, khơi thông nguồn lực phát triển kinh tế biển xanh
Hoàn thiện thể chế, quản trị không gian biển, xây dựng hành lang pháp lý các ngành kinh tế mới được xem là chìa khóa để khơi thông nguồn lực phát triển kinh tế biển xanh.
Thể chế là “nút thắt” cần tháo gỡ để kinh tế biển bứt phá
Việt Nam có hơn 3.260 km bờ biển, với 21 trong số 34 tỉnh, thành phố có biển. Không chỉ là không gian sinh tồn và phát triển, biển còn giữ vai trò chiến lược về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế.

Tỉnh Khánh Hòa đã và đang đẩy mạnh nuôi biển công nghệ cao, nuôi biển quy mô công nghiệp. Ảnh: Kim Sơ
Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đã đặt mục tiêu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn. Những năm qua, nhận thức về phát triển kinh tế biển bền vững không ngừng được nâng lên; hệ thống chính sách, pháp luật từng bước hoàn thiện; nhiều địa phương ven biển đã phát huy lợi thế để phát triển cảng biển, logistics, du lịch, nuôi biển, năng lượng tái tạo và các ngành dịch vụ biển.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy nhiều điểm nghẽn thể chế đang cản trở quá trình khai thác hiệu quả tiềm năng biển. Công tác quản lý còn phân tán theo ngành, lĩnh vực; cơ chế điều phối liên ngành, liên vùng chưa đồng bộ; việc quản lý và sử dụng không gian biển chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; dữ liệu biển còn thiếu tính kết nối; nhiều ngành kinh tế biển mới chưa có hành lang pháp lý đủ mạnh để thu hút đầu tư.
Tại họp báo về chuỗi sự kiện hưởng ứng Ngày Đại dương thế giới và Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam năm 2026, ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết qua tổng kết 10 năm thực hiện Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 và Nghị quyết 36-NQ/TW, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã nhận diện ba điểm nghẽn lớn.
Thứ nhất là hệ thống pháp luật liên quan đến biển còn phân tán ở nhiều luật khác nhau như dầu khí, hàng hải, thủy sản, địa chất và khoáng sản… dẫn tới giao thoa, chồng lấn trong quản lý cùng một không gian phát triển.
Thứ hai là thiếu các công cụ quản trị hiện đại phục vụ phân bổ, giao và quản lý quyền sử dụng không gian biển. Thứ ba là áp lực kiểm soát ô nhiễm môi trường biển ngày càng lớn trong bối cảnh vừa phải phát triển kinh tế biển, vừa bảo đảm mục tiêu bảo vệ môi trường và sinh kế bền vững cho người dân ven biển.
Hoàn thiện Luật để mở đường cho các ngành kinh tế biển mới
Trong khuôn khổ Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam (từ 1-8/6), Ngày Đại dương thế giới (8/6) và Tháng hành động vì môi trường năm 2026 với chủ đề “Thúc đẩy phát triển kinh tế biển xanh bền vững: từ thể chế đến hành động”, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với UBND tỉnh Nghệ An tổ chức Hội thảo quốc gia “Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững”.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo không chỉ là sửa đổi một đạo luật chuyên ngành mà còn là cơ hội để đổi mới tư duy quản trị biển theo hướng tổng hợp, thống nhất, hiện đại và hiệu quả hơn.
Dự thảo luật tập trung vào bốn nhóm chính sách trọng tâm. Trước hết là hoàn thiện thể chế quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường biển trên cơ sở Quy hoạch không gian biển quốc gia đã được phê duyệt.
Bên cạnh đó là hoàn thiện cơ chế giao, cho thuê, đăng ký và đấu giá quyền sử dụng không gian biển nhằm tạo môi trường đầu tư minh bạch, ổn định, giúp doanh nghiệp yên tâm triển khai các dự án dài hạn.
Một nội dung đáng chú ý khác là xây dựng cơ chế, chính sách đột phá cho các ngành kinh tế biển mới nổi như năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển công nghiệp, dịch vụ biển công nghệ cao và các lĩnh vực kinh tế biển xanh. Đây được kỳ vọng sẽ trở thành động lực tăng trưởng mới, gia tăng đóng góp của kinh tế biển vào nền kinh tế quốc dân.
Song song với đó là tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, bảo vệ hệ sinh thái và đa dạng sinh học biển, bảo đảm nguyên tắc phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho rằng, dư địa phát triển kinh tế biển của Việt Nam còn rất lớn. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải tổ chức quản lý hiệu quả, tạo đầu mối rõ ràng để người dân và doanh nghiệp không phải đi qua nhiều cơ quan khi thực hiện thủ tục.
Theo Thứ trưởng, định hướng xây dựng chính sách là luật quy định các nguyên tắc khung, còn những vấn đề phát sinh trong thực tiễn sẽ được điều chỉnh linh hoạt thông qua các nghị định và văn bản hướng dẫn. Cách tiếp cận này nhằm vừa tạo thuận lợi cho phát triển, vừa bảo đảm quản lý hiệu quả và thích ứng với những ngành kinh tế biển đang phát triển rất nhanh.
Quan điểm xuyên suốt được Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh là không đánh đổi môi trường biển, hệ sinh thái và đa dạng sinh học lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Phát triển kinh tế biển phải dựa trên nền tảng bảo tồn, sử dụng bền vững tài nguyên, tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn và sự tham gia của toàn xã hội.
Nhân Ngày Đại dương thế giới và Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam năm 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng phát động 12 thông điệp truyền thông, trong đó nhấn mạnh yêu cầu thúc đẩy phát triển kinh tế biển xanh bền vững từ thể chế đến hành động; quy hoạch không gian biển hài hòa giữa phát triển và bảo tồn hệ sinh thái; bảo vệ môi trường biển gắn với bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên biển và xây dựng sinh kế bền vững cho cộng đồng ven biển.











