Hoàn thiện thể chế, khơi thông nguồn lực từ kinh tế tuần hoàn và thị trường carbon

Chiều 6/11, trao đổi với phóng viên bên lề Kỳ họp thứ Hai về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, ĐBQH Nguyễn Thị Lan (Hà Nội) đánh giá, cắt giảm sâu thủ tục tiền kiểm, đẩy mạnh phân cấp và chuyển sang quản trị rủi ro dựa trên dữ liệu số là bước đột phá về thể chế. Đại biểu đồng thời đề nghị hoàn thiện quy định về phụ phẩm nông nghiệp, phân tầng nghĩa vụ kiểm kê khí nhà kính và xác lập tín chỉ carbon là tài sản đặc thù, tạo dư địa phát triển kinh tế tuần hoàn và tín dụng xanh.

Đưa phụ phẩm nông nghiệp trở thành nguồn tài nguyên

ĐBQH Nguyễn Thị Lan bày tỏ thống nhất cao với Tờ trình của Chính phủ và Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường; đồng thời đánh giá cao tinh thần làm việc công phu, cầu thị của cơ quan chủ trì soạn thảo và cơ quan thẩm tra. Theo đại biểu, việc mạnh dạn cắt giảm sâu thủ tục tiền kiểm, phân cấp triệt để và chuyển sang quản trị rủi ro dựa trên dữ liệu số là bước đột phá thể chế quan trọng.

ĐBQH Nguyễn Thị Lan (Hà Nội). Ảnh: Quang Khánh

ĐBQH Nguyễn Thị Lan (Hà Nội). Ảnh: Quang Khánh

Từ thực tiễn nghiên cứu khoa học và lĩnh vực nông nghiệp - môi trường, đại biểu đề xuất ba nhóm giải pháp trọng tâm. Về tháo gỡ nút thắt trong quản lý phụ phẩm nông nghiệp tại Điều 72 và Điều 72a, ĐBQH Nguyễn Thị Lan đánh giá cao quy định cho phép quản lý chất thải đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật như sản phẩm, hàng hóa. Tuy nhiên, thực tế mỗi năm nước ta phát sinh hơn 150 triệu tấn phụ phẩm, trong khi chưa có tiêu chí pháp lý đầy đủ để xác định thời điểm phụ phẩm không còn bị coi là chất thải.

Theo đại biểu, tình trạng này khiến nguồn tài nguyên sinh khối lớn từ rơm rạ, vỏ trấu, bùn ao tôm đến phân gia súc vẫn bị kiểm soát như chất thải. Ngay cả việc vận chuyển rơm, trấu để phục vụ trồng nấm, làm thức ăn chăn nuôi cũng phải thực hiện theo quy định vận chuyển rác thải, gây ách tắc cho hoạt động sản xuất và kinh tế tuần hoàn.

Dẫn kinh nghiệm Liên minh châu Âu về áp dụng tiêu chuẩn “chấm dứt thuộc tính chất thải”, đại biểu cho rằng cần có cơ chế pháp lý rõ ràng để chuyển phụ phẩm đáp ứng yêu cầu kỹ thuật thành hàng hóa. Trên cơ sở đồng tình với Báo cáo thẩm tra, ĐBQH Nguyễn Thị Lan đề nghị bổ sung vào khoản 4 Điều 72a nguyên tắc giao Chính phủ quy định tiêu chí chấm dứt thuộc tính chất thải và ban hành quy chuẩn kỹ thuật an toàn đối với phụ phẩm nông nghiệp.

Khi đáp ứng quy chuẩn, phụ phẩm được lưu thông như hàng hóa, không phải áp dụng thủ tục quản lý chất thải; cơ quan quản lý chuyển sang kiểm soát bằng phương thức hậu kiểm. Theo đại biểu, đây là giải pháp quan trọng để tháo gỡ rào cản pháp lý, khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên sinh khối và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp.

Phân tầng kiểm kê khí nhà kính, bảo đảm phù hợp năng lực thực hiện

Đối với quy định về kiểm kê khí nhà kính tại Điều 91, ĐBQH Nguyễn Thị Lan đồng tình với mục tiêu rút ngắn chu kỳ kiểm kê phát thải xuống hằng năm nhằm chuẩn hóa dữ liệu quốc gia. Đại biểu cũng ghi nhận dự thảo bước đầu phân định trách nhiệm báo cáo của cơ sở thuộc danh mục với yêu cầu thẩm định độc lập đối với cơ sở được phân bổ hạn ngạch.

Tuy nhiên, theo đại biểu, số lượng tổ chức đủ điều kiện thực hiện thẩm định độc lập ở nước ta hiện còn hạn chế. Nếu áp dụng ngay yêu cầu kiểm kê và thẩm định hằng năm trên diện rộng trong khi hạ tầng chưa đáp ứng, doanh nghiệp sẽ phải chịu áp lực lớn về chi phí tuân thủ, đồng thời có nguy cơ chậm thực hiện nghĩa vụ. Vì vậy, yêu cầu của pháp luật cần gắn với điều kiện và năng lực thực thi.

Quang cảnh thảo luận tại hội trường. Ảnh: Quang Khánh

Quang cảnh thảo luận tại hội trường. Ảnh: Quang Khánh

Tham khảo kinh nghiệm Nhật Bản và Hàn Quốc về phân tầng quản lý, đại biểu đề nghị chỉnh lý khoản 2 và khoản 7 Điều 91 theo hướng chỉ bắt buộc kiểm kê, thẩm định độc lập hằng năm đối với các cơ sở được phân bổ hạn ngạch như nhà máy nhiệt điện than, xi măng, luyện thép. Đối với các cơ sở khác, như chế biến nông - lâm - thủy sản, dệt may, cần duy trì chu kỳ 2 năm một lần trong giai đoạn chuyển tiếp.

Cùng với đó, đại biểu đề nghị kết hợp công cụ báo cáo trực tuyến dùng chung và chuyển mạnh sang phương thức hậu kiểm. Cách tiếp cận phân tầng sẽ giúp bảo đảm mục tiêu chuẩn hóa dữ liệu phát thải, đồng thời phù hợp hơn với năng lực thực hiện, tránh tạo thêm gánh nặng chi phí cho doanh nghiệp.

Về thị trường carbon tại Điều 139, ĐBQH Nguyễn Thị Lan cho rằng dự thảo đã bước đầu định hình khung pháp lý cho thị trường này. Tuy nhiên, một số chương trình, dự án có tiềm năng giảm phát thải lớn như Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp hay các dự án trồng rừng ngập mặn vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn dài hạn.

Theo đại biểu, một trong những vướng mắc là tín chỉ carbon chưa được định danh rõ là tài sản theo Bộ luật Dân sự để có thể sử dụng làm tài sản bảo đảm. Trong khi hợp tác xã có chứng nhận giảm phát thải và ngân hàng có nhu cầu cho vay, việc thiếu cơ sở pháp lý về quyền tài sản khiến nguồn lực tài chính chưa được khơi thông.

Dẫn kinh nghiệm New Zealand về việc luật hóa tín chỉ carbon là quyền tài sản đặc thù, cho phép đăng ký biện pháp bảo đảm trên hệ thống dữ liệu quốc gia, đại biểu đề nghị bổ sung vào khoản 1 Điều 139 nguyên tắc xác lập tín chỉ carbon và hạn ngạch phát thải là tài sản đặc thù, được phép thế chấp và đăng ký biện pháp bảo đảm khi đủ điều kiện theo quy định.

Đồng thời, cần giao Chính phủ hướng dẫn cơ chế định giá, xử lý tài sản thế chấp và cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng cho người nông dân, hợp tác xã trực tiếp tham gia giữ rừng, sản xuất lúa giảm phát thải.

Một đạo luật tốt không chỉ ngăn ngừa sai phạm, mà phải biết mở đường và biến thách thức thành cơ hội phát triển. Tôi tin tưởng các giải pháp trên sẽ giúp Luật vừa bảo vệ nghiêm ngặt môi trường sinh thái, vừa thực sự khơi thông nguồn lực to lớn từ kinh tế tuần hoàn và thị trường tài chính xanh cho đất nước.

ĐBQH Nguyễn Thị Lan (Hà Nội)

Phi Long

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/hoan-thien-the-che-khoi-thong-nguon-luc-tu-kinh-te-tuan-hoan-va-thi-truong-carbon-10442203.html