Hội An - nhìn từ hai làng cổ
Trong thời kỳ hoàng kim của đô thị - thương cảng giai đoạn thế kỷ XVI - XVIII cũng như sự phát triển mạnh mẽ khi được công nhận là Di sản Văn hóa thế giới năm 1999 đến nay, Hội An ghi dấu ấn đặc trưng trong khu vực Đông Nam Á và thế giới. Dấu ấn đó được hình thành từ những làng xã xưa ở Hội An, làm nên bản sắc của vùng đất và con người nơi đây.

Sản xuất gạch tại làng Thanh Hà. Ảnh tư liệu: Trung tâm Bảo tồn Di sản văn hóa thế giới Hội An
Nhìn lại sự hình thành làng ở đô thị cổ Hội An - bao gồm cả các phường Hội An, Hội An Đông, Hội An Tây và xã đảo Tân Hiệp thuộc thành phố Đà Nẵng hiện nay, chính là tìm về nguồn cội để tiếp tục phát huy bản sắc tốt đẹp ấy trước những đổi thay thời hiện đại…
Thanh Hà giữ nếp làng xưa
Theo các nhà khảo cổ, vùng đất Hội An xưa đầy ắp trầm tích văn hóa, từ thời Sa Huỳnh đến Champa. Trong quá trình biến thiên lịch sử, vùng đất thuộc châu Rí này được vua Champa là Jaya Simhavarman III (Chế Mân) dâng làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân của Đại Việt vào năm 1306, sau đổi thành châu Hóa. Nhưng, việc hình thành làng Việt ở đây nói riêng cũng như xứ Quảng nói chung diễn ra một cách mạnh mẽ từ cuối thế kỷ XV, khi vua Lê Thánh Tông chinh phạt Champa, lập ra Quảng Nam Thừa tuyên vào năm 1471.
Việc hình thành làng Việt ở Hội An, trong đó làng Thanh Hà là một ví dụ điển hình. Theo ThS. Nguyễn Chí Trung, qua nghiên cứu khoa học, “trên mảnh đất Thanh Hà cách ngày nay hơn 2.000 năm đã có cư dân sinh sống. Đây là lớp cư dân thuộc phức hệ văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung Việt Nam. Họ thuộc chủng Mê-lanê-diêng, trong nhóm tộc người Mã Lai - Đa Đảo ở Đông Nam Á. Lớp cư dân này đã biết trồng lúa nước, chăn nuôi gia súc, gia cầm; biết khai thác sản vật trên sông, biển; biết dệt vải, rèn sắt làm công cụ sản xuất, biết làm đồ trang sức…; xã hội đã có sự phân hóa và có sự giao lưu kinh tế văn hóa trong khu vực với vai trò là cảng thị sơ khai hay tiền cảng thị…"(1).
Là một làng có bề dày lịch sử như vậy nhưng thông tin các bậc tiền hiền người Việt đến đây lập làng lại không được lưu giữ một cách đầy đủ. Theo Quảng Nam xã chí do Viện Viễn Đông Bác cổ (Pháp) thực hiện những năm 1943-1945, thì “cái công khai khẩn của các vị tiền hiền làng này thật là đáng viết, một làng to tát, công trình vĩ đại biết bao mà nay ai là người còn rõ được tên tuổi.
Lấy theo lời và ý ấn định của làng này thì chừng 8 tộc làm tiền hiền gọi là bát tôn: Nguyễn Văn, Nguyễn Viết, Nguyễn Đức, Nguyễn Kim, Ngụy Như, Bùi Phước, Võ Đình, Võ Văn. Trong 8 tộc này thì tộc nào cũng còn con cháu tại làng đông đúc nhưng riêng tộc Nguyễn Tấn thì hiện đã |tiệt| rồi, 8 tộc này tuy không có bia bản yết gì nhưng có bài vị rõ ràng đã lâu rồi”(2).
Khi làng Thanh Hà được thành lập thì thuộc huyện Điện Bàn, phủ Triệu Phong, Châu Hóa. Sau năm 1604, Thanh Hà thuộc tổng Phú Triêm Hạ, huyện Diên Khánh/Diên Phước, phủ Điện Bàn, gồm 13 ấp: Hậu Xá, Thanh Chiếm, An Bang, Bộc Thủy, Nam Diêu, Cửa Suối, Bàu Ốc, Trảng Kèo, Trảng Sỏi, Đồng Nà, Trà Quế, Cồn Động, Bến Trễ.
Như vậy, làng Thanh Hà xưa, trong thời nay, nổi lên hai cái tên gắn với du lịch của đô thị cổ Hội An, đó là làng gốm Thanh Hà và làng rau Trà Quế, nay thuộc phường Hội An Tây.
Cẩm Phô - Từ làng lên phố
Trong khi làng Thanh Hà tiếp nối trên cơ sở cư dân Sa Huỳnh và Champa nhưng chưa xác định rõ thời điểm lập làng Việt, theo tác giả Nguyễn Thanh Dương: “Cẩm Phô là một trong 3 làng Việt cổ được hình thành sớm nhất trên vùng đất Hội An… Cùng với làng Võng Nhi và Hoài Phô, vào cuối thế kỷ XV những cư dân người Việt vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh đầu tiên thuộc 4 dòng họ Huỳnh, Lê, Trần, Nguyễn đã đến khai nghiệp và lập nên làng Cẩm Phô… Làng Cẩm Phô xưa nằm trong khu trung tâm của thành phố Hội An ngày nay, không gian địa giới được xác định gồm hai phường Cẩm Phô và Cẩm Nam”(3).
Trong quá trình phát triển của thương cảng Hội An từ thế kỷ XVI, làng Cẩm Phô sớm chuyển mình lên đô thị. Trong Quảng Nam xã chí, Cẩm Phô được xác định là phường lẫn làng: “Làng Cẩm Phô là một làng đại xã kể cả công tư điền thổ (Cẩm Phô phường) diện tích trên 500 mẫu, và bạch sa thổ mộ trên 150 mẫu. Dân số kể cả ngụ và chánh trên 10.000 (1 vạn) nhân mạng… Nghề nghiệp của dân trong làng hầu hết đủ cả: nghề nông, nuôi tằm, ươm tơ, thương mãi (địa phận thành phố) buôn ghe, đánh cá, thợ nề, thợ mộc và còn nhiều nghề nữa nhưng không kể xiết…”.
Từ trường hợp làng Cẩm Phô, tác giả Tống Quốc Hưng cho rằng: “Xuyên suốt quá trình lịch sử Hội An là một “thành phố đặc thù” đó là “phố làng”, trong phố có làng. Thực tế đã minh chứng là dưới thời các chúa Nguyễn, thương cảng Hội An có hai thành phố của người Nhật và người Hoa. Hai thành phố này nằm chủ yếu trên đất của các xã Minh Hương, Hội An, Cẩm Phô và Sơn Phong; tuy mỗi phố, mỗi cộng đồng người (Việt - Hoa - Nhật) đều có nếp sống riêng, nhưng trên mặt bằng chung họ chủ yếu vẫn sống theo lối làng xã với những quan hệ thân thiện, quan tâm giúp đỡ lẫn nhau và đều có tinh thần “tôn lão kính thượng” không khác gì làng xã ở các vùng nông thôn. Điều này rất hiếm thấy ở những nơi phố thị, mà đặc biệt là ở một thương cảng quốc tế như Hội An” (Đặc trưng văn hóa Hội An thời kỳ các chúa Nguyễn)(4).
Nhìn từ hai làng Thanh Hà và Cẩm Phô, có thể thấy rằng, dù vẫn giữ làng nghề xưa hay lên phố từ rất sớm, nhưng cả vùng đất và con người nơi đây luôn chú trọng phát huy bản sắc tốt đẹp của mình. Trong đó, nền nếp gia phong và sự thuần hậu trong ứng xử là những bản sắc người Hội An gìn giữ và trao truyền qua bao đời, dù cho sự biến thiên của thời cuộc ở đô thị cổ này diễn ra rất mạnh mẽ. Có thể nói, đó chính là nhờ ý thức chắt lọc và trao truyền những nét đẹp văn hóa làng Việt của bao thế hệ người Hội An.
Đây chính là bài học quý giá để làm cơ sở cho sự phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của Hội An trong giai đoạn mới…
--------------
(1)Tổng quan về điều kiện tự nhiên, lịch sử làng Thanh Hà - https://hoianheritage.net/
(2) Làng xã ở Hội An qua tư liệu Địa bạ triều Nguyễn và Quảng Nam xã chí - Trung tâm Quản lý Bảo tồn di sản vă hóa Hội An, NXB Đà Nẵng, 2020.
(3) và (4) Hội An trong lịch sử 550 năm danh xưng Quảng Nam 1471 - 2021 - Nhiều tác giả, NXB Đà Nẵng, 2021.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/hoi-an-nhin-tu-hai-lang-co-3340406.html











