Hơn 800 nghìn tỷ đồng thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia từ 2026-2030
Chiều 24/8, với 477/478 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa-xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035.

Quốc hội làm việc tại hội trường thông qua Nghị quyết của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa-xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035. (Ảnh: DUY LINH)
Nghị quyết quyết nghị, phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa-xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035 trên cơ sở hợp nhất Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035 (phê duyệt chủ trương đầu tư tại Nghị quyết số 162/2024/QH15 ngày 27/11/2024 của Quốc hội), Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026-2035 (phê duyệt chủ trương đầu tư tại Nghị quyết số 249/2025/QH15 ngày 10/12/2025 của Quốc hội), Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035 (phê duyệt chủ trương đầu tư tại Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội), Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 20262035 (phê duyệt chủ trương đầu tư tại Nghị quyết số 262/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội) (sau đây gọi chung là 4 Chương trình).
Nghị quyết nêu nhiều mục tiêu cụ thể đến năm 2030 của Chương trình, trong đó mục tiêu phấn đấu tăng thu nhập bình quân của người dân nông thôn gấp 2,5-3 lần so với năm 2020, tăng thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số bằng 1/2 bình quân chung của cả nước.
Phấn đấu tỷ lệ nghèo đa chiều của cả nước duy trì mức giảm 1%-1,5%/năm, giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi xuống dưới 10%.
Phấn đấu vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn.
Phấn đấu cả nước có khoảng 65% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có khoảng 10% số xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại; phấn đấu có 05 tỉnh, thành phố được công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.
Về bảo tồn và phát triển văn hóa, Nghị quyết nêu mục tiêu phấn đấu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP của cả nước...

Quốc hội làm việc tại hội trường. (Ảnh: DUY LINH)
Về phát triển văn hóa, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ và toàn diện trong phát triển văn hóa và xây dựng, hoàn thiện nhân cách, chuẩn mực đạo đức, bản sắc, bản lĩnh, hệ giá trị con người, gia đình Việt Nam. Đồng thời, huy động sự tham gia của tổ chức, cá nhân và cộng đồng trong việc quản lý, bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa của dân tộc. Huy động nguồn lực, tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, chất lượng, hiệu quả cho phát triển văn hóa, đóng góp trực tiếp vào phát triển kinh tế-xã hội, thúc đẩy các ngành công nghiệp văn hóa trở thành bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân…
Về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển, bảo đảm mọi người dân đều được quản lý, chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng bệnh từ sớm, từ xa, ngay tại cơ sở, hạn chế bệnh tật; gia tăng tỷ lệ sinh, phấn đấu tỷ số giới tính khi sinh đạt mức cân bằng giới tính khi sinh, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số; tăng cường chăm sóc cho các nhóm dễ bị tổn thương; góp phần nâng cao sức khỏe thể chất, tinh thần, tầm vóc, tuổi thọ và chất lượng cuộc sống của nhân dân, xây dựng nước Việt Nam khỏe mạnh.
Về hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chuẩn hóa, hiện đại hóa toàn diện hệ thống giáo dục và đào tạo, tạo bước chuyển căn bản, mạnh mẽ về chất lượng giáo dục và đào tạo; mở rộng cơ hội học tập cho mọi người dân, bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục, quyền được học tập suốt đời; đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Chương trình được thực hiện trên phạm vi cả nước; tại một số quốc gia có mối quan hệ, tương tác văn hóa lâu dài với Việt Nam, có đông đảo người Việt Nam sinh sống, lao động, học tập (đối với nội dung phát triển văn hóa Việt Nam ở nước ngoài); trong đó ưu tiên các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, an toàn khu, biên giới, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn.
Tổng nguồn lực thực hiện Chương trình giai đoạn đầu 2026-2030 là 808.558 tỷ đồng.

