Hơn 90% nguồn cung trái phiếu nằm ở ngân hàng và bất động sản

Doanh nghiệp huy động hơn 428.500 tỷ đồng qua trái phiếu trong 9 tháng năm 2026, nhưng nguồn cung vẫn tập trung vào ngân hàng và bất động sản. Theo FiinRatings, khả năng cân đối dòng tiền và chất lượng tín nhiệm trở thành yếu tố quyết định cơ hội tiếp cận vốn của doanh nghiệp cuối năm.

Ảnh minh họa: APGC

Ảnh minh họa: APGC

Theo dữ liệu Hiệp hội Thị trường Trái phiếu Việt Nam (VBMA) tổng hợp từ Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), tính đến ngày 30/9/2026, thị trường ghi nhận 38 đợt phát hành trái phiếu doanh nghiệp trong tháng 9, với tổng giá trị hơn 47.000 tỷ đồng.

Trong đó, 33 đợt phát hành riêng lẻ đạt tổng giá trị 42.200 tỷ đồng; 5 đợt chào bán ra công chúng đạt hơn 4.900 tỷ đồng. Lũy kế 9 tháng đầu năm, doanh nghiệp huy động hơn 428.500 tỷ đồng qua trái phiếu, gồm gần 370.600 tỷ đồng phát hành riêng lẻ và gần 58.000 tỷ đồng phát hành ra công chúng.

Hoạt động giao dịch cũng tăng trên thị trường thứ cấp. Tổng giá trị giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ trong tháng 9 đạt 148.600 tỷ đồng, bình quân hơn 7.400 tỷ đồng mỗi phiên, tăng 15% so với bình quân tháng trước.

Nguồn: VBMA

Nguồn: VBMA

Ở chiều thanh toán, các doanh nghiệp mua lại trước hạn hơn 17.900 tỷ đồng trái phiếu trong tháng, thấp hơn 56% so với cùng kỳ. Trong ba tháng còn lại của năm 2026, giá trị trái phiếu đáo hạn được VBMA ước tính hơn 70.000 tỷ đồng.

Nguồn: VBMA

Nguồn: VBMA

Báo cáo cũng ghi nhận 3 mã trái phiếu phát sinh mới tình trạng chậm trả lãi, gốc, với giá trị lãi chậm trả 167,8 tỷ đồng, cùng một mã trái phiếu gia hạn ngày đáo hạn. Những nghĩa vụ này đặt ra yêu cầu chuẩn bị dòng tiền cho doanh nghiệp, bên cạnh việc tìm kiếm nguồn tài trợ mới.

Trong các kế hoạch phát hành sắp tới được VBMA tổng hợp, Công ty Tài chính Tổng hợp cổ phần Điện lực (HoSE: EVF) dự kiến huy động tối đa 300 triệu USD thông qua phương án phát hành trái phiếu quốc tế năm 2026. Trái phiếu không chuyển đổi, không kèm chứng quyền và không có tài sản bảo đảm; mệnh giá dự kiến 200.000 USD/trái phiếu, kỳ hạn từ 3 năm, áp dụng lãi suất kết hợp cố định và thả nổi.

Tại thị trường trong nước, CTCP Chứng khoán Rồng Việt (HoSE: VDS) có phương án phát hành riêng lẻ tối đa 800 tỷ đồng trong năm 2026. Trái phiếu được chào bán cho nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, không chuyển đổi, không kèm chứng quyền và không có tài sản bảo đảm. Mệnh giá dự kiến là 100 triệu đồng/trái phiếu, kỳ hạn tối đa một năm, lãi suất cố định 9,7%/năm.

Rồng Việt dự kiến sử dụng số tiền huy động để cơ cấu lại nợ, gồm gốc, lãi trái phiếu đến hạn và nợ ngân hàng. Trong thời gian chưa đến hạn thanh toán, công ty sẽ gửi tiền qua các hợp đồng tiền gửi để bảo đảm giải ngân đúng tiến độ.

Chi phí huy động cao, thị trường phân hóa theo chất lượng tín nhiệm

Theo báo cáo “Tâm điểm Thị trường vốn nợ Việt Nam 2026” công bố ngày 8/10, FiinRatings nhận định trái phiếu doanh nghiệp tiếp tục tăng trưởng, nhưng nguồn cung tập trung cao và chi phí vốn gia tăng. Tổ chức xếp hạng tín nhiệm này dự báo chi phí vốn đi ngang trong quý 4/2026, chưa có xu hướng giảm rõ rệt.

Theo dữ liệu FiinRatings cập nhật đến ngày 24/9, ngân hàng chiếm 49,2% giá trị phát hành trái phiếu doanh nghiệp nội tệ, bất động sản chiếm 41,5%. Hai nhóm đóng góp hơn 90% nguồn cung, trong khi các ngành còn lại chưa đến 10%.

FiinRatings đánh giá quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam, tương đương 10,4% GDP, còn nhỏ so với Thái Lan ở mức 23,39%, Singapore 26,73% và Malaysia 54,6%.

Nguồn cung tập trung trong một số ngành khiến việc tăng giá trị phát hành chưa đồng nghĩa khả năng tiếp cận vốn được mở rộng đồng đều. Trong khi đó, lãi suất tăng đang khiến doanh nghiệp thận trọng hơn với các kế hoạch huy động.

Theo dữ liệu quý 3 cập nhật đến ngày 14/9, lãi suất phát hành bình quân gia quyền của các tổ chức tín dụng đạt 8,80%, so với 6,11% cùng kỳ năm trước. Nhóm chứng khoán tăng từ 7,72% lên 9,68%; bất động sản từ 10,34% lên 10,75%; du lịch và giải trí từ 9,73% lên 10,77%.

FiinRatings lý giải mức tăng xuất phát từ cả cơ cấu phát hành nghiêng về trái phiếu bất động sản có lãi suất cao hơn và việc định giá lại rủi ro khi lãi suất huy động tăng. Áp lực thanh khoản của ngân hàng vì thế truyền sang chi phí tài trợ của doanh nghiệp.

Khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động, ngân hàng phải nâng lãi suất tiền gửi có kỳ hạn. Phần chi phí tăng thêm được chuyển sang lãi suất cho vay và trái phiếu. Với trái phiếu áp dụng lãi suất thả nổi tham chiếu theo tiền gửi, nghĩa vụ trả lãi cũng tăng khi lãi suất tham chiếu điều chỉnh.

Theo FiinRatings, mặt bằng này tạo lợi thế tương đối cho tổ chức có chất lượng tín nhiệm tốt. Các tổ chức yếu hơn nhiều khả năng phải trì hoãn hoặc thu hẹp quy mô phát hành, thay vì có thể huy động theo kế hoạch ban đầu.

Trên thị trường thứ cấp, lợi suất cũng phân hóa. Theo dữ liệu quý III cập nhật đến ngày 14/9, lợi suất đáo hạn bình quân của nhóm tổ chức tín dụng tăng từ 6,34% lên 8,46% so với cùng kỳ; nhóm chứng khoán tăng từ 8,64% lên 10,18%.

Ngược lại, lợi suất nhóm bất động sản giảm từ 8,14% xuống 8,02%. FiinRatings cho biết giao dịch tập trung vào trái phiếu sắp đáo hạn của các tổ chức phát hành lâu năm. Diễn biến này phản ánh đặc điểm các lô được giao dịch, chưa thể xem là dấu hiệu chi phí huy động của toàn ngành đã giảm.

Nhu cầu vốn dài hạn đòi hỏi thị trường phát triển sâu hơn

Triển vọng nguồn cung thời gian tới còn gắn với thay đổi nhu cầu phát hành của ngân hàng. Theo FiinRatings, việc khôi phục tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung và dài hạn lên 40%, nới quy định về tỷ lệ dư nợ tín dụng trên vốn huy động và loại trừ các dự án quy mô lớn khỏi hạn mức tín dụng đã giải phóng năng lực cho vay trung và dài hạn.

Các điều chỉnh này củng cố vai trò của tín dụng ngân hàng, đồng thời làm giảm một động lực phát hành trái phiếu trung và dài hạn để đáp ứng tỷ lệ an toàn. Tuy nhiên, nhu cầu bổ sung vốn cấp 2 và cải thiện tỷ lệ an toàn vốn vẫn hỗ trợ hoạt động huy động qua trái phiếu.

Báo cáo ghi nhận ngân hàng chiếm khoảng 95% trong tổng số khoảng 203.000 tỷ đồng đã đăng ký chào bán, chủ yếu từ ngân hàng thương mại Nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần lớn, với kỳ hạn từ 5 năm trở lên. Nếu được triển khai, các kế hoạch này sẽ kéo dài kỳ hạn bình quân của thị trường từ đầu năm 2027.

Với doanh nghiệp tìm đến thị trường quốc tế, FiinRatings lưu ý lãi suất danh nghĩa thấp hơn chưa đồng nghĩa tổng chi phí huy động thấp hơn. Theo ước tính tham khảo trong báo cáo, trái phiếu USD kỳ hạn 5 năm của doanh nghiệp hàng đầu có chi phí khoảng 8,45%. Doanh nghiệp có nguồn thu USD có thể hưởng lợi từ chênh lệch này, nhưng doanh nghiệp có nguồn thu nội tệ phải tính thêm chi phí phòng ngừa rủi ro tỷ giá.

Chi phí hoán đổi sang VND có thể đưa tổng chi phí lên khoảng 11,8%, chưa gồm phí thu xếp và cấu trúc. Bên cạnh đó, xếp hạng tín nhiệm quốc gia dưới mức đầu tư và mặt bằng lãi suất Mỹ cao tiếp tục hạn chế khả năng tiếp cận vốn quốc tế với chi phí thấp.

Theo FiinRatings, tín dụng ngân hàng không thể đáp ứng toàn bộ nhu cầu vốn cho chương trình đầu tư giai đoạn 2026 - 2030. Thị trường trái phiếu cần mở rộng nhóm tổ chức phát hành sang hạ tầng, tiện ích và giao thông, đồng thời phát triển cơ sở nhà đầu tư tổ chức để cung cấp nguồn vốn có kỳ hạn phù hợp.

Thu Trang

Nguồn Mekong Asean: https://mekongasean.vn/hon-90-nguon-cung-trai-phieu-nam-o-ngan-hang-va-bat-dong-san-60499.html