Hơn nửa thế kỷ phát triển du lịch Đà Nẵng
Từ một địa phương gần như 'trắng' về hoạt động du lịch, Đà Nẵng đã vươn mình mạnh mẽ, trở thành một trong những điểm đến hàng đầu khu vực Đông Nam Á. Hành trình 'từ không đến có' này là minh chứng rõ nét về tầm nhìn, chiến lược phát triển và khả năng khai thác hiệu quả lợi thế sẵn có của địa phương.

Đầu những năm 2010, ông Lê Quốc Việt, chủ đầu tư Khách sạn Santavilla Hội An, Chủ nhiệm câu lạc bộ Điểm đến xứ Quảng quyết định rời Hà Nội vào Hội An lập nghiệp. Quyết định này trở thành bước ngoặt của cuộc đời ông.
“Lần đầu đến vùng đất này, tôi đã nhận thấy rất nhiều cơ hội để phát triển du lịch, từ vị trí địa lý, giá trị di sản, bề dày lịch sử, văn hóa đến không gian sinh thái yên bình, con người hiền hòa, mến khách”, ông Việt chia sẻ.
Câu chuyện của ông Lê Quốc Việt không chỉ là hành trình lập nghiệp của một cá nhân, mà còn minh chứng cho sức hút của vùng đất xứ Quảng trong mắt nhà đầu tư và du khách trong nước, quốc tế.

Năm 2025, Đà Nẵng đón hơn 17,3 triệu lượt khách lưu trú, tổng doanh thu du lịch ước đạt gần 60.000 tỷ đồng, đánh dấu cột mốc ấn tượng trong hành trình phát triển của ngành du lịch thành phố sau 51 năm kể từ ngày quê hương giải phóng.
Nhìn lại trước những năm 1990 - thời điểm khái niệm du lịch vẫn còn khá xa lạ với cả chính quyền lẫn người dân địa phương. Khi ấy, toàn tỉnh chỉ có Công ty Du lịch Quảng Nam - Đà Nẵng cùng vài khách sạn nhỏ ở khu vực trung tâm, chủ yếu phục vụ chuyên gia Nga và khách nội địa đi công tác.
Phải đến những năm 1990, khi Sở Du lịch Quảng Nam - Đà Nẵng được thành lập, hoạt động du lịch mới dần hình thành rõ nét, song vẫn tập trung chủ yếu ở khu vực trung tâm Đà Nẵng; trong khi phía nam vẫn còn khá trầm lắng.
Năm 1995, sau hội nghị về phố cổ Hội An, ý niệm phát triển du lịch tại vùng đất này mới bắt đầu được nhắc đến. Thế nhưng, du lịch Hội An khi ấy vẫn chỉ ở những bước chập chững ban đầu, cơ sở lưu trú duy nhất là 4 phòng của Công ty Thương mại và Dịch vụ Hội An với lượng khách khá ít ỏi.

Riêng Mỹ Sơn, bắt đầu từ những năm 1992 - 1993 mới đón những đoàn khách nhỏ tham quan. Giai đoạn này, tổng lượng khách đến Quảng Nam - Đà Nẵng mỗi năm khoảng 100 nghìn lượt.
Năm 1997, tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng chia tách, tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch mỗi địa phương bứt phá, tăng tốc. Tại Quảng Nam, Sở Thương mại và Du lịch ra đời đánh dấu cột mốc về một ngành kinh tế mới của tỉnh.
Dù vậy, du lịch chỉ thật sự khởi sắc khi Đô thị cổ Hội An và Khu đền tháp Mỹ Sơn được UNESCO công nhận di sản văn hóa thế giới vào năm 1999. Lượng khách bắt đầu tăng cao đột biến, nhiều khách sạn nhỏ lần lượt ra đời như Thanh Bình, Thùy Dương, Phố Hội, Vĩnh Hưng… Làn sóng đầu tư vào du lịch Quảng Nam cũng chuyển động với những khu resort lớn xây dựng ven biển như Victoria, Hội An Beach Resort, The Nam Hải, Palm Garden Resort…

Cùng với đó, hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch cũng từng bước được triển khai, hướng đến thị trường khách quốc tế. Dấu mốc đáng chú ý là sự kiện "Quảng Nam - Hành trình di sản" 2003 và chuyến Roadshow đầu tiên đến Thái Lan nhằm giới thiệu, đón đầu dòng khách trung chuyển quốc tế - một bước đi cho thấy tư duy thị trường đã bắt đầu hình thành và vận hành rõ nét hơn.
Đến Festival di sản 2010, du lịch Quảng Nam đánh dấu bước chuyển mới khi không gian đã mở rộng ra xa phố cổ với điểm đến Bhờ Hôồng (xã Sông Kôn), mở ra khả năng đa dạng tài nguyên du lịch của tỉnh khi có rừng có biển, làng nghề, thủ công mỹ nghệ….
Năm 2007, Tỉnh ủy Quảng Nam (cũ) ban hành Nghị quyết 06 xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn. Từ dấu mốc này, du lịch không còn bị nhìn nhận đơn thuần là ngành “ăn chơi”, mà từng bước khẳng định vai trò là lĩnh vực tạo ra giá trị kinh tế rõ nét, góp phần giải quyết sinh kế cho người dân, thúc đẩy giao lưu văn hóa và làm thay đổi diện mạo cảnh quan, môi trường địa phương.

Nhiều tour, tuyến, sản phẩm du lịch, dịch vụ được hình thành như khám phá miền núi, trải nghiệm làng nghề, Đêm rằm phố Hội, Phố không động cơ… góp phần đa dạng nhu cầu tham quan, trải nghiệm của du khách. Đô thị cổ Hội An trở thành “thỏi nam châm” thu hút khách và các nhà đầu tư từ khắp nơi trên thế giới.
Ông Nguyễn Sự, nguyên Bí thư Thành ủy Hội An (cũ) nhớ lại, năm 1993, lần đầu tiên Hội An ban hành nghị quyết về phát triển du lịch, trong đó cho phép các thành phần kinh tế làm du lịch, sự kiện đã tạo “bệ phóng” cho du lịch Hội An phát triển.
Nhiều sản phẩm du lịch văn hóa lần lượt ra đời và trở thành “đặc sản” của Hội An như Đêm rằm phố cổ, Phố đi bộ, Phố không tiếng động cơ…. Tuy nhiên, du lịch Hội An chỉ thật sự “bùng nổ” kể từ năm 1999 khi Đô thị cổ Hội An trở thành di sản văn hóa thế giới.
Không gian du lịch được mở rộng đến biển đảo, làng quê, làng nghề với nhiều sản phẩm độc đáo như cưỡi trâu, cày ruộng, vãi chài trên sông, lắc thúng chai… góp phần đưa du lịch Quảng Nam trở thành một trong những trung tâm của miền Trung và cả nước.

Tương tự, tại thành phố Đà Nẵng, bước ngoặc diễn ra khi Đà Nẵng trở thành thành phố trực thuộc Trung ương. Cùng với việc đầu tư mạnh mẽ hạ tầng đô thị như sân bay quốc tế Đà Nẵng, cầu sông Hàn, cầu Rồng…, sự xuất hiện của các điểm đến mang tính biểu tượng, đặc biệt là Bà Nà Hills đã góp phần tạo nên sức hút khác biệt.
Nếu năm 2000, thành phố đón khoảng 500 nghìn lượt khách, thì 10 năm sau con số này đã tăng lên hơn 1,7 triệu lượt (2010). Năm 2024, Đà Nẵng đón gần 10,9 triệu lượt khách lưu trú và đạt 5,8 triệu lượt khách lưu trú (tính đến 6 tháng đầu năm 2025).

Ông Phan Xuân Thanh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng nhìn nhận, bên cạnh lợi thế vị trí địa lý giúp thành phố trở thành điểm trung chuyển lý tưởng trên hành trình của du khách quốc tế, thì yếu tố mang tính quyết định chính là tầm nhìn chiến lược của chính quyền.
Đà Nẵng sớm xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, từ đó tập trung quy hoạch bài bản, ưu tiên đầu tư hạ tầng và chủ động thu hút đầu tư, tạo nền tảng vững chắc cho sự bứt phá của ngành trong những năm qua.

Trong đó, việc quy hoạch đồng bộ dải ven biển, khai thác hiệu quả bãi biển Mỹ Khê - một trong những bãi biển đẹp nhất hành tinh, đã tạo nền tảng quan trọng cho sự hình thành và phát triển của hàng loạt khu nghỉ dưỡng cao cấp như ngày nay.
Bên cạnh đó, môi trường du lịch an toàn, thân thiện, cùng chất lượng dịch vụ ngày càng được nâng cao cũng trở thành những yếu tố then chốt, góp phần thu hút lượng khách đến Đà Nẵng không ngừng gia tăng.
Theo bà Trương Thị Hồng Hạnh, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao, Du lịch thành phố Đà Nẵng, sau 51 năm giải phóng và sau gần 1 năm hợp nhất thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam, du lịch Đà Nẵng tiếp tục khẳng định vai trò điểm đến nổi bật trong nước và thế giới; xác lập vị thế trung tâm sự kiện và du lịch hàng đầu khu vực. Đạt được thành tựu này, yếu tố quan trọng nhất chính là dấu ấn về hạ tầng và những sản phẩm, dịch vụ đẳng cấp quốc tế.

Trong đó, hạ tầng giao thông kết nối điểm đến bao gồm hệ thống giao thông đa phương thức với hai sân bay Đà Nẵng và Chu Lai; ba cảng biển Liên Chiểu, Tiên Sa, Chu Lai; hệ thống cao tốc, đường vành đai, đường bộ hiện đại, đồng bộ kết nối các khu vực chức năng; đường sắt liên vùng…
Đặc biệt, sự kết nối hàng không đã tạo lợi thế rất lớn cho du lịch thành phố. Tính đến đầu năm 2026, Đà Nẵng có 7 đường bay nội địa và 20 đường bay quốc tế thường kỳ bao gồm: Bangkok (Thái Lan), Singapore, Kuala Lumpur (Malaysia), Đài Bắc/ Cao Hùng (Đài Loan - Trung Quốc), Macau (Trung Quốc), Hong Kong (Trung Quốc), Siêm Riệp/ Phnom Penh (Campuchia), Incheon/ Busan/ Daegu/ Cheongju (Hàn Quốc), Narita/ Osaka (Nhật Bản), Manila (Philippines), Yangon (Myanmar), Dubai, Bali (Indonesia), Viêng Chăn (Lào). Năm 2025, Đà Nẵng đón hơn 48.000 chuyến bay (tăng 12,4%), trên 20.200 chuyến bay quốc tế.

Cùng với đó, hạ tầng du lịch được đầu tư đồng bộ. Nhiều thương hiệu quốc tế lớn như InterContinental, Novotel, Hyatt, Vinpearl, Pullman, Hilton, Sheraton, Hoiana... hiện diện tại Đà Nẵng. Đến nay, toàn thành phố có 2.300 cơ sở lưu trú (hơn 66.000 phòng), riêng cơ sở lưu trú hạng 4 - 5 sao và tương đương đứng đầu cả nước với 165 cơ sở (trên 31.000 phòng).
Nhiều điểm đến biểu tượng như phố cổ Hội An, khu đền tháp Mỹ Sơn, khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm, bán đảo Sơn Trà; các khu du lịch Bà Nà Hill, VinWonders Nam Hội An cũng như các bãi biển đẳng cấp trở thành thương hiệu nhận diện của Đà Nẵng trên bản đồ du lịch khu vực và thế giới.

Đặc biệt, Đà Nẵng trở thành “Điểm đến sự kiện - lễ hội” với các sự kiện, lễ hội quy mô lớn, mang tầm quốc tế được tổ chức thường niên như Lễ hội pháo hoa quốc tế Đà Nẵng (DIFF), Liên hoan Phim châu Á Đà Nẵng; các lễ hội giao lưu văn hóa quốc tế (Việt Nam - Hàn Quốc, Việt Nam - Nhật Bản); các sự kiện thể thao tầm cỡ như Marathon quốc tế Đà Nẵng, IRONMAN 70.3, Triathlon… góp phần thu hút đông đảo du khách quốc tế, nhất là phân khúc khách có mức chi tiêu cao, lưu trú dài ngày đến thành phố.

Có thể thấy, sau 51 năm giải phóng, Đà Nẵng vươn mình mạnh mẽ với những tầm nhìn chiến lược mới, qua đó không chỉ khẳng định thương hiệu thành phố đáng sống mà còn là một điểm đến năng động, sáng tạo và bền vững, ghi dấu ấn đậm nét trên bản đồ du lịch thế giới.
Theo bà Trương Thị Hồng Hạnh, trong bối cảnh mới, Đà Nẵng xác định phát triển du lịch theo hướng bền vững và có chiều sâu. Trong đó, tập trung vào chuyển đổi số, kinh tế xanh và phát huy các giá trị văn hóa đặc trưng làm những trụ cột xuyên suốt, hướng tới mục tiêu xây dựng Đà Nẵng trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn của thế giới và cực tăng trưởng du lịch quốc gia, đóng vai trò hạt nhân thúc đẩy du lịch miền Trung phát triển.

Phấn đấu giai đoạn 2026 - 2030 tăng trưởng doanh thu dịch vụ lưu trú, lữ hành, ăn uống đạt 14 - 15%/năm, tốc độ tăng bình quân tổng lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ khoảng 10-11%/năm. Để hiện thực hóa mục tiêu này, ngành du lịch thành phố sẽ tập trung triển khai các nhóm giải pháp trọng tâm gồm: hoàn thiện quy hoạch và không gian phát triển du lịch. Cụ thể, sẽ xây dựng định hướng tổng thể phát triển du lịch phù hợp với không gian mới; xác định các không gian/trung tâm du lịch và các điểm du lịch vệ tinh.
Phát triển hệ sinh thái sản phẩm du lịch Đà Nẵng mới, tập trung vào các sản phẩm đặc thù như du lịch biển và nghỉ dưỡng cao cấp gắn với bất động sản nghỉ dưỡng; du lịch di sản văn hóa, làng nghề; du lịch đô thị gắn với mua sắm, vui chơi giải trí; du lịch MICE, thể thao, golf, sự kiện, lễ hội; du lịch sinh thái; du lịch cộng đồng và du lịch nông nghiệp, du lịch y tế, chăm sóc sức khỏe. Phát triển các sản phẩm mới như du lịch sáng tạo, du lịch ban đêm, du lịch trải nghiệm, du lịch cưới…

Đồng thời, tiếp tục đầu tư hạ tầng và tăng cường kết nối, đảm bảo đầu tư đồng bộ theo quy hoạch đối với sân bay quốc tế, từng bước chuyển đổi cảng Tiên Sa thành cảng du lịch; đầu tư, nâng cấp các tuyến đường bộ, đường sắt đô thị kết nối trung tâm Đà Nẵng - Hội An - Tam Kỳ - Chu Lai. Phát triển các tuyến du lịch liên vùng, nội vùng và kết nối đến các cửa khẩu quốc tế (cửa khẩu Nam Giang, cửa khẩu Đắc Ốc, cửa khẩu Kỳ Hà).
Triển khai khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế gắn với đưa vào hoạt động một số dự án động lực, trọng điểm về du lịch. Đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá, phát triển thị trường. Tăng cường xúc tiến thu hút khách các thị trường trọng điểm và phân khúc cao cấp. Tập trung tổ chức các sự kiện, lễ hội quy mô lớn.

Thúc đẩy chuyển đổi số trong du lịch, xây dựng hệ sinh thái du lịch thông minh; ứng dụng công nghệ số trong quản lý và quảng bá; nâng cao trải nghiệm du khách hướng đến phát triển du lịch bền vững; bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch, phát triển du lịch xanh. Kiểm soát quá tải tại các điểm đến.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao trình độ ngoại ngữ và kỹ năng phục vụ; chuẩn hóa dịch vụ theo tiêu chuẩn quốc tế… hướng đến mục tiêu đưa Đà Nẵng trở thành trung tâm du lịch quốc gia có vị thế khu vực và quốc tế, đồng thời giữ vai trò cửa ngõ du lịch miền Trung hiện nay và những năm tiếp theo.
Nội dung: VĨNH LỘC
Thiết kế: LÊ THANH
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/hon-nua-the-ky-phat-trien-du-lich-da-nang-3330019.html













