Hồn quê giữa phố
Trong cuốn Thi nhân Việt Nam (1932-1941), Hoài Thanh - Hoài Chân có một câu để đời: “Ở mỗi chúng ta đều có một người nhà quê”. Với tôi, dù có phiêu bạt nơi góc bể chân trời vẫn khó thể phai nhòa những hình ảnh chân quê đã được chép trong trang sách đầu đời...

Học trò lễ dâng lễ phẩm tưởng niệm Nghĩa sĩ Đà Nẵng tại Đài chiến sĩ ở Nghĩa trủng Hòa Vang. Ảnh: V.T.L
“Bồng em mà bỏ vô nôi/ Cho mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu/ Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu/ Mua cau Vĩnh Điện, mua trầu Hội An”. Ngày từng ngày, câu hát ru thắm đượm tình quê đã được “chép” vào trái tim tôi thơ dại từ thuở nằm nôi. Khi đủ lớn khôn, tôi biết còn có một chợ Cầu ngoài thực địa, nơi ba tôi mở một tiệm thuốc bắc.
Chợ ven sông quê
Chợ Cầu ngày trước thuộc làng Hà Lộc, tổng Phú Triêm, phủ Điện Bàn; nay thuộc phường Điện Bàn Đông, thành phố Đà Nẵng. Đây là chợ quê ven sông của vùng đất trù phú một thời, nức tiếng bởi các sản vật địa phương nên được “lọt vào mắt xanh” của dân gian xứ Quảng qua những câu ca truyền khẩu.
Chợ nằm bên cạnh một cây cầu có cái tên rất dân gian là cầu Chợ, bắc qua sông Hà Sấu. Các cụ trưởng thượng quanh vùng kể rằng, thuở tiền nhân đến quy dân lập ấp, nơi này có nhiều cá sấu sinh sống nên đặt tên sông là Hà Sấu.
Khi chiến tranh nổ ra khốc liệt, làng quê Hà Lộc bị bom đạn cày xới tơi bời. Mẹ tôi gánh đôi bầu nan tre quét dầu rái, một bên lưng lửng ang gạo, một bên em gái tôi ngồi chóc ngóc. Hai anh em tôi lúp xúp chạy theo sau. Sông Hà Sấu ngày đó rộng mênh mông trong mắt tôi thơ dại. Đưa bốn mẹ con qua bên kia, ông lão lái đò chống sào lặng nhìn theo, đôi mắt chừng như ầng ậng nước trong ánh hừng đông...
Mãi về sau, khi bước chân vào làng báo, tôi mới biết Hà Sấu là tên gọi đoạn sông Cổ Cò ngang qua làng Hà Lộc thuở trước.
Sông Cổ Cò, sách Đại Nam nhất thống chí chép là Lộ Cảnh Giang, dài gần 30km bắt đầu từ vùng đất có năm ngọn núi Ngũ Hành Sơn với phong cảnh sơn thủy hữu tình nổi tiếng “Nam thiên danh thắng” ra đến Cửa Đại của phố cổ Hội An trầm tư, tĩnh lặng.
Đây là con sông nổi tiếng trong lịch sử ngoại thương từ thế kỷ XVI đến XVIII của xứ Đàng Trong, nối liền tiền cảng Đà Nẵng với thương cảng Hội An sầm uất.
Trước khi sông Cổ Cò bị bồi lấp, gãy đứt thành nhiều đoạn, việc thông thương giữa chợ Hàn (Đà Nẵng) và chợ Phố (Hội An) chủ yếu bằng đường sông. Nằm trên trục giao thông thuận lợi, chợ Cầu từng nổi tiếng trù phú một thời như câu ca xưa đã “điểm danh”. Nhờ đó, cái tiệm thuốc bắc của ba tôi trở thành “điểm hẹn” gặp gỡ, chuyện trò của giới trí thức quanh vùng và khách thương hồ xuôi ngược trên sông.
Tôi đã có những bước đi chập chững đầu đời trong cái tiệm thơm nồng hương thuốc các loại. Tuổi thơ tôi trôi qua trong yên bình của làng quê ngày ấy, nơi có chiếc cầu mang tên chợ bắc qua sông và ngôi chợ mang tên cầu, soi bóng nước. Sáng sáng, khi bầu trời thấp thoáng những ngọn cây còn ẩn mình trong màn sương mờ đục, tiếng cười nói huyên thuyên, tiếng gà vịt quang quác đã vang động một góc trời...
Tiếng bình văn bên kia bờ trúc
Khi đủ trí lực, tôi mới ít nhiều hiểu được những gì mà các vị khách chuyện trò trong tiệm thuốc bắc. Ba tôi kể, cách chợ Cầu một quãng đường ngắn về phía hạ lưu sông Cổ Cò là trường học của cụ Cử nhân Lê Tấn Toán, nơi sôi kinh nấu sử của các sĩ tử quanh vùng ngày trước.
Lúc còn thơ, tôi đã từng theo ba bước vào cánh cổng đơn sơ được ghép bằng những cọng trúc đã nhuốm màu thời gian - nơi tôi nghiệm ra một điều là, bất cứ ai trong làng đi qua cũng nghiêng mình cung kính một điều gì đó. Giữa khu vườn rộng được bao bọc bởi các hàng tre, bụi trúc xanh mượt là một ngôi nhà năm gian cất theo kiểu cổ nhìn ra sông.
Nhìn cảnh đìu hiu, hoang vắng từ những mái ngói đã ngả màu rêu phong cổ kính dưới nắng chiều, tôi không sao hình dung ra cảnh một thời đầy ắp học trò từ trong nhà ra ngoài sân như lời ba mô tả.
Học trò cụ Cử buổi đầu là con cháu trong họ tộc, sau lần ra khắp làng rồi cả tỉnh. Tiếng lành đồn xa, không ít sĩ tử từ các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định cũng rủ nhau kéo về Hà Lộc.
Theo đà phát triển sầm uất trên bến dưới sông của chợ Cầu, trường học của thầy Cử họ Lê ngày ấy sớm chiều sang sảng tiếng bình văn bên kia bờ trúc.

Ông Lê Tấn Lai, cháu 4 đời Cử nhân Lê Tấn Toán viếng hương cụ tại nhà thờ tộc Lê Tấn làng Hà Lộc. Ảnh: V.T.L
Tôi có người bạn đồng niên là Lê Tấn Lai, cùng chơi nhiều trò dân gian thơ dại sau lũy tre làng chứ có biết chi về gia thế của bạn. Về sau, khi quay lại làng xưa tìm tư liệu viết bài về cụ Lê Tấn Toán, mới hay bạn tôi là cháu bốn đời của cụ. Khi xem qua Gia phả tộc Lê Tấn làng Hà Lộc do bạn cung cấp, tôi bất ngờ khi biết con gái cụ Cử từng về làm dâu Tiến sĩ Phạm Phú Thứ ở làng Đông Bàn, Gò Nổi.
Và càng ngạc nhiên hơn khi biết cụ có hai người học trò đã làm rạng rỡ trang sử cách mạng nước nhà. Nguyễn Duy Hiệu lưu danh thiên cổ với Nghĩa hội Quảng Nam (1885-1887). Châu Thượng Văn gắn phương danh của mình với phong trào xin sưu kháng thuế ở Quảng Nam năm 1908.
Bất giác tôi nghe văng vẳng đâu đây lời ba tôi dạy ngày nào: Bài học vỡ lòng thầy cử họ Lê dạy trò không chỉ là kiến thức mà còn có cả đạo đức, tiết tháo, lòng yêu nước thương dân của một kẻ sĩ.
Cái chợ Cầu một thời vang bóng ấy giờ chỉ còn trong câu hát ru. Thầy cử Lê và hai người học trò đã trở thành gương sáng cho các thế hệ mai sau.
Anh Lưu Hữu Tư - một MC đám cưới nổi tiếng đất Điện Dương (nay thuộc phường Điện Bàn Đông), kể rằng bữa đó có hai người khách đến tìm hiểu cặn kẽ về cụ Lê Tấn Toán. Khách về, anh ngơ ngẩn hồi lâu rồi làm mấy vần thơ kỷ niệm: Bước đến Điện Dương bóng ngả chiều/ Sóng vờn hoa biển gió hiu hiu/ Dương xanh nước biếc vầng trăng tỏ/ Nhắc đến người xưa dạ nhớ nhiều.
Hòa chung một dòng nước
Hơn nửa thế kỷ, từ ngày theo mẹ vượt sông rời quê nhà, tôi làm kẻ ngụ cư trên đất Cẩm Lệ. Nơi đây có ngôi chợ cùng tên, cũng một thời sầm uất trên bến dưới thuyền, khách thương hồ nhiều nơi theo đường thủy đến bán buôn, trao đổi hàng hóa.
Từ đó, địa danh Cẩm Lệ không chỉ đi vào thơ ca dân gian mà còn được chính sử ghi nhận như một thế đất quan yếu đóng góp vào sự trù phú, thịnh vượng chung của cả vùng với thổ sản nổi tiếng: Thanh Hà vẫn gạch bát nồi/ Thuốc thơm Cẩm Lệ mấy đời lừng danh.
Ngày đó nơi tả ngạn sông Cẩm Lệ có 3 xã láng giềng là Bình Thái, Khuê Trung và Cẩm Lệ; trong đó, nổi bật nhất là xã Cẩm Lệ.
Xa làng quê Hà Lộc, tôi vinh dự được làm học trò Trường Tiểu học Bình Khuê Cẩm - tên gọi ghép chung 3 xã với nhau. Và càng cảm thấy vinh dự hơn khi chạm đến những dòng chữ chép trong sách Đại Nam nhất thống chí, rằng ngọn núi, con sông, ngôi chợ, bến đò cùng mang tên Cẩm Lệ.
Việc được sử sách lưu danh này là một trong những “điểm cộng” để năm 2005, khi thành lập quận mới trực thuộc thành phố Đà Nẵng, các cấp thẩm quyền đã đồng ý phê duyệt tên gọi Cẩm Lệ.
Trên địa bàn quận mới này có không ít địa chỉ níu chân khách bằng dấu ấn văn hóa - lịch sử với “điểm nhấn” là Nghĩa trủng Hòa Vang.
Ban đầu nghĩa trủng tọa lạc trên địa phận huyện Hòa Vang, về sau được dời về địa bàn phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ. Đây là nơi an nghỉ của các tướng sĩ vị quốc vong thân đã hy sinh trong kháng chiến chống liên quân Pháp - Tây Ban Nha xâm lược nước ta (1858-1860).
Nhà gần nghĩa trủng nên tôi thường xuyên dự Lễ tế Nghĩa sĩ Đà Nẵng và Hội làng Khuê Trung vào 16 tháng Ba âm lịch hằng năm, cùng bà con các họ tộc thắp nén hương trước đài Chiến sĩ - nơi ghi dấu khí phách hùng anh và chí quật cường của cả dân tộc.
Hơn năm qua, các phường Khuê Trung, Hòa Thọ Tây, Hòa Thọ Đông sáp nhập thành phường mới Cẩm Lệ.
Bạn Nguyễn Trần Trung Dũng - công dân Cẩm Lệ và là học trò tiểu học của tôi - từng là cộng tác viên chuyên mục “Chuyện xưa xứ Quảng” trên Báo Đà Nẵng cuối tuần, luôn tự hào về quê hương mình: “Những mạch nguồn nối liền văn hóa xưa và nay đã tưới mát cho mỗi tâm hồn người dân Cẩm Lệ, họ yêu quê hương để rồi họ cùng nhau chung tay xây dựng một Cẩm Lệ phồn thịnh”.
Cẩm Lệ, tên làng thành tên quận, rồi nay là tên phường, hai bên bờ sông cùng tên giờ đã phố xá nghênh ngang như câu ca xưa nói về bên tê Hà Thân của sông Hàn. Thế nhưng, trong tôi vẫn còn vẹn nguyên những kỷ niệm một thời thơ dại của làng quê xưa.
Cho đến khi tôi biết rằng một phần nước sông Cẩm Lệ đã hòa dòng với nước sông Cổ Cò và đổ về sông Hà Sấu quê tôi, tình yêu trong tôi dành cho nơi sinh ra và nơi trưởng thành càng thêm bền chặt và không đo đếm được.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/hon-que-giua-pho-3347925.html











