Văn hóa làng trong phố

HNN - Chưa hết tháng 6 âm lịch mà đã nghe mấy bác cao tuổi ở xóm tôi rôm rả hỏi nhau xem lễ Thu tế sắp tới sẽ được tổ chức ở đình làng như thế nào, không biết các tộc trưởng có kế hoạch họp hành gì chưa. Kể cũng lạ, giữa phố phường nhộn nhịp mà các bác say sưa nói chuyện làng. Đình làng cũng chẳng đâu xa, chỉ cách nhà tôi vài chục mét. “Phố cũng bắt đầu từ làng. Giữ cái gốc của làng cũng là giữ văn hóa cho đời sau. Lớp trẻ tụi bây nên nhớ”. Có hỏi thì sẽ được các bác thị phạm như vậy, lần nào cũng thế.

Lật lại lịch sử thì vùng đất Huế từ xưa vốn là những làng mạc. Làng của người Việt có mặt ở vùng đất này từ những năm đầu thế kỷ XIV. Hai trong những ngôi làng được thành lập sớm ở thời kỳ này vẫn còn lưu danh đến ngày nay, đó là làng An Cựu và làng Phú Xuân (còn có tên là làng Thụy Lôi). Công cuộc trấn giữ và mở mang bờ cõi của các triều đại phong kiến về sau cũng khiến cho vùng đất này hình thành thêm những ngôi làng trù phú mang đậm bản sắc văn hóa Việt.

Tư liệu lịch sử của nhà Nguyễn kể rằng, đầu thế kỷ XIX, khi Vua Gia Long cho xây dựng Kinh đô Huế bên bờ sông Hương, đã phải di dời dân cư của 8 ngôi làng, gồm Phú Xuân, Vạn Xuân, Diễn Phái, An Vân, An Hòa, An Mỹ, An Bảo, Thế Lại. Tám ngôi làng được bù đất để thiết lập cuộc sống mới và xây dựng lại các thiết chế đình, chùa, miếu mạo... Riêng làng Phú Xuân, ngôi làng cổ và lớn nhất ở đây, được vua đặc cách cho giữ ngôi đình làng trong Kinh thành, giao cho Bộ Lễ tế lễ hàng năm, dân làng được tề tựu về đây dự lễ. 

Thị xã Huế được thành lập theo chỉ dụ của Vua Thành Thái vào năm 1898, đến năm 1929, chính thức được nâng cấp lên thành phố. Quá trình đô thị hóa từ đó về sau không ngừng được phát triển, tuy nhiên, điều dễ nhận thấy, văn hóa làng không dễ mất đi. Những ngôi đình làng được gìn giữ, thậm chí có thêm những ngôi đình phường được thành lập trên đất của các làng xưa. Nơi đó thờ những vị khai canh, khai khẩn vùng đất; thờ thập nhị tôn phái, tức là 12 dòng họ đầu tiên có công khai hoang, lập ấp, xây dựng và phát triển một ngôi làng. Khi đình còn thì văn hóa làng vẫn được lưu giữ.

 Đình làng Kim Long - nơi lưu giữ nhiều lễ nghi đã từng tồn tại hàng trăm năm. Ảnh: QT

 Đình làng Kim Long - nơi lưu giữ nhiều lễ nghi đã từng tồn tại hàng trăm năm. Ảnh: QT

Ngày nay, khi Huế đã trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, thì trong vùng lõi đô thị của thành phố, vẫn hiện diện rất nhiều ngôi đình mang tên của những ngôi làng danh hương trong lịch sử như An Cựu, Phú Xuân, Kim Long, Thế Lại, Lại Thế... Nơi đây lưu giữ rất nhiều lễ nghi của những ngôi làng đã từng tồn tại hàng trăm năm như các lễ tế mùa xuân, mùa thu, lễ kỵ ngài khai canh làng, bổn thổ thần hoàng... Cũng chính nhờ nếp đình còn mà 12 họ tộc của mỗi làng xưa vẫn sum vầy bên nhau cùng lo việc họ, việc làng ở đình; khôi phục lại các hương ước làng xưa cho phù hợp với lối sống văn minh đô thị ngày nay. Sự kết nối các họ tộc cũng hình thành nhiều hoạt động cộng đồng đầy ý nghĩa, điển hình là khuyến học, khuyến tài trong con em các dòng họ.

Văn hóa làng như một sợi dây kết nối quá khứ và hiện tại, thúc đẩy tinh thần uống nước nhớ nguồn, ly hương nhưng không ly tổ của nhiều bà con sinh sống hoặc đi làm ăn xa. Họ trở về tham gia các lễ hội làng ở đình với niềm vui như được trở về với nguồn cội, và sẵn sàng đóng góp cho sự tồn tại, phát huy các giá trị văn hóa căn cốt này.

Huế tháng Tám, khi tiết trời vào thu, cũng là lúc các đình làng chuẩn bị cho một lễ hội lớn nhất trong năm: lễ tế mùa thu. Và các bậc cao niên trong xóm tôi, có lẽ đã sẵn sàng cho “việc làng, việc nước” này một cách hân hoan, tự hào.

Nguyên Thu

Nguồn Thừa Thiên Huế: https://huengaynay.vn/van-hoa-nghe-thuat/van-hoa-lang-trong-pho-168421.html