Hồn Việt trong dáng nghê chầu

Có những linh vật bước ra từ huyền thoại để trở thành biểu tượng của quyền uy. Cũng có những linh vật không sinh ra từ truyền thuyết, không hiện diện trong 'tứ linh', không gắn với những huyền tích lẫy lừng nhưng lại âm thầm đi cùng một dân tộc qua hàng nghìn năm lịch sử. Nghê là một linh vật như thế.

Nghê không có trong thế giới tự nhiên. Nó được tạo nên từ trí tưởng tượng dân gian, từ sự tiếp biến văn hóa và từ đôi bàn tay tài hoa của bao thế hệ nghệ nhân Việt.

Có lẽ cũng vì được sinh ra trong lòng đời sống nên nghê mang dáng vẻ rất gần gũi. TS Trần Hậu Yên Thế, người dành nhiều tâm huyết nghiên cứu về loài linh vật này từng sâu sắc nhận định: “Nhỏ nhắn và khiêm nhường, chất phác và thuần hậu, bởi không ham công, không thích lớn nên nghê thể hiện chính xác nhất chiều kích văn hóa Việt”.

Hàng nghê chầu trong không gian di tích Thái miếu nhà Hậu Lê.

Hàng nghê chầu trong không gian di tích Thái miếu nhà Hậu Lê.

Nếu rồng tượng trưng cho thiên mệnh, phượng hoàng gắn với sự cao quý thì nghê lại là biểu tượng của lòng trung thành, chính trực. Nghê không thể không bay lên trời cao, cũng chẳng tung hoành giữa mây nước, nghê chỉ lặng lẽ chầu.

Chính cái dáng chầu ấy đã làm nên cốt cách của linh vật này. Dân gian vẫn lưu truyền câu nói: “Làm phượng thì múa, làm nghê thì chầu”. Là câu nói ấy đã vận vào đời nghê hay vì cái dáng chầu của linh vật ấy đã khắc sâu vào dòng chảy văn hóa Việt rồi từ đó nên câu ca lưu truyền?

Nghê là một linh vật giàu ngôn ngữ biểu tượng trong nghệ thuật tạo hình dân gian. Hiếm có linh vật nào có thần thái sinh động như nghê, đủ cả hỉ nộ ái ố, lúc chau mày ứa lệ, lúc teo miệng cười... Có con nghê nghiêm nghị như đang suy tư, có con như khẽ mỉm cười, có con ánh mắt hiền từ, lại có con nét mặt tươi cười, vui vẻ dõi theo từng bước chân người lại qua...

Theo dòng thời gian, biến động lịch sử, từ “cái nôi” văn hóa dân gian, nghê được “cung đình hóa”, trở thành linh thú mà các triều đại phong kiến Việt tôn kính. Nhưng dù ở sân đình làng quê hay trước điện vua, nghê vẫn giữ nguyên thần thái vốn có: điềm tĩnh, trung thành và lặng lẽ.

Thanh Hóa là một trong những vùng đất còn lưu giữ nhiều dấu tích về linh vật này.

Tấm bia “Minh Tịnh tự bi văn” - một trong những tấm bia cổ thời Lý đã nhắc đến việc dựng đài nghê trong không gian Phật giáo. Chỉ một chi tiết cũng đủ cho thấy nghê đã hiện diện từ rất sớm trong đời sống tín ngưỡng của người Việt, đồng thời khẳng định vai trò của xứ Thanh trong dòng chảy tín ngưỡng, văn hóa dân tộc.

Nếu văn bia là ký ức trên đá, thì những pho tượng nghê được lưu giữ tại Thái miếu nhà Hậu Lê hay Khu di tích Quốc gia đặc biệt Lam Kinh lại là ký ức hiện hữu bằng hình khối.

Từng đường nét, hoa văn trên tượng nghê chầu tại Thái miếu nhà Hậu Lê được chạm khắc tinh tế, tỉ mỉ.

Từng đường nét, hoa văn trên tượng nghê chầu tại Thái miếu nhà Hậu Lê được chạm khắc tinh tế, tỉ mỉ.

Dạo bước qua nghi môn đi vào đến hiên của cung ngoài Thái miếu nhà Hậu Lê, nhiều người tỏ ra thích thú khi được chiêm ngưỡng hàng nghê gỗ xếp hàng trong tư thế chầu trang nghiêm. Đầu nghê ngẩng cao, thân hình vững chãi, những đường chạm khắc vân mây, bờm lửa, nanh, vuốt được tiết chế vừa đủ để tạo nên vẻ uy nghi mà không dữ tợn. Qua bao lần trùng tu, tôn tạo, nghê vẫn lặng lẽ ngồi đó canh giữ cho giấc ngàn thu của các bậc tiền nhân.

Tại Khu di tích Quốc gia đặc biệt Lam Kinh, hai bên lối vào chính giữa trước sân có đặt hai con giống đá huyền thoại giống như hai con nghê. Hai con nghê đá có hình thù giống nhau, nhưng kích thước khác nhau.

Trên thân nghê chạm khắc trang trí nhiều hình xoắn thể hiện lớp lông dài, giữa các lớp xoắn trang trí hình ngọn lửa dài, lượn sóng có chỗ giống như hình áng vân mây cách điệu, có hai xoắn lớp áp xuống phần trên cổ. Bờm thể hiện bằng những xoắn chải lượn. Nét mặt thể hiện rất rõ, trán và lông mày nổi, mũi rộng mắt tròn, lồi, môi hở để lộ hàm răng đều đặn, có hai răng nanh ở hai bên hàm trên. Đầu vươn về phía trước như trong tư thế canh phòng trước nghi môn.

Giữa không gian cổ kính của đất Lam Sơn, nghê không chỉ làm nhiệm vụ bảo vệ kiến trúc. Chúng như những người lính gác của lịch sử, chứng kiến bao đổi thay của một triều đại và lặng lẽ kể câu chuyện ấy cho hậu thế bằng chính hình hài của mình.

Nghê chầu trước nghi môn Khu di tích Quốc gia đặc biệt Lam Kinh.

Nghê chầu trước nghi môn Khu di tích Quốc gia đặc biệt Lam Kinh.

TS Trần Hậu Yên Thế từng gọi nghê là “linh vật chầu rìa độc đáo nhất trong nghệ thuật cổ truyền của người Việt”. Chữ “chầu rìa” mang nhiều tầng ý nghĩa. Bởi ở đó phản ánh tâm thế của linh vật khiêm cung, nhã nhặn, không có khát vọng chiếm lĩnh trung tâm, không có sự phô diễn quyền lực.

Nghê chọn đứng ở bên rìa để thể hiện lòng trung thành, gìn giữ những điều thiêng liêng. Chính điều ấy đã làm nên sức sống lâu bền của linh vật này, cũng như phản ánh một phần bản sắc của văn hóa Việt.

Tượng nghê thời Lê Trung Hưng, thế kỷ XVII - XVIII trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa.

Tượng nghê thời Lê Trung Hưng, thế kỷ XVII - XVIII trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa.

Giữa nhịp sống hiện đại, khi những giá trị truyền thống đứng trước không ít thách thức, sự hiện diện của nghê trong các không gian di tích không chỉ là câu chuyện của mỹ thuật hay bảo tồn di sản. Đó là ký ức văn hóa, là lời nhắc rằng nét đẹp văn hóa dân tộc hiện diện trong những dáng hình tưởng chừng nhỏ bé, lặng lẽ như nghê chầu. Và cũng bằng sự lặng lẽ ấy, nghê gìn giữ một phần hồn Việt.

Hoàng Linh

Nguồn Thanh Hóa: https://vhds.baothanhhoa.vn/hon-viet-trong-dang-nghe-chau-44348.htm