Hợp nhất nguồn lực hơn 808.000 tỷ đồng cho văn hoá - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi

Với 477/478 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, chiều 24/8, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035. Tổng nguồn lực thực hiện Chương trình trong giai đoạn 2026 - 2030 là 808.558 tỷ đồng.

Theo Nghị quyết, Chương trình mới được hình thành trên cơ sở hợp nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa; hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày báo cáo. Ảnh: Đức Thanh

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày báo cáo. Ảnh: Đức Thanh

Chương trình được thực hiện trên phạm vi cả nước trong giai đoạn 2026 - 2035, ưu tiên các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, an toàn khu, biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn.

Tổng nguồn lực thực hiện Chương trình giai đoạn 2026 - 2030 là 808.558 tỷ đồng. Trong đó, ngân sách trung ương 345.000 tỷ đồng, gồm 244.200 tỷ đồng vốn đầu tư công và 100.800 tỷ đồng kinh phí thường xuyên.

Ngân sách địa phương dự kiến 395.392 tỷ đồng; ngân sách nhà nước cấp thực hiện tín dụng chính sách 23.000 tỷ đồng; nguồn đối ứng của các cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng 20.429 tỷ đồng và nguồn huy động hợp pháp khác 24.737 tỷ đồng.

Chương trình tập trung thực hiện 4 nhóm nhiệm vụ lớn: xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi; bảo tồn, phát triển văn hóa; hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển.

Nguyên tắc phân bổ ngân sách là đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, không manh mún, dàn trải; ưu tiên ở mức cao nhất cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, an toàn khu, biên giới, hải đảo.

Ngân sách được phân bổ hằng năm căn cứ nhu cầu, kết quả thực hiện mục tiêu, giải ngân, tiến độ và mức độ sẵn sàng thực hiện; đồng thời có cơ chế hỗ trợ địa phương còn hạn chế về năng lực chuẩn bị dự án, bảo đảm không làm giảm khả năng tiếp cận nguồn lực của địa phương khó khăn.

Hợp nhất nhưng không thu hẹp chính sách

Trước khi Quốc hội biểu quyết, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn đã trình bày báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Nghị quyết.

Giải trình trước Quốc hội, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn khẳng định nguyên tắc xuyên suốt là việc hợp nhất “không làm thay đổi, không thu hẹp các nội dung đã được Quốc hội quyết nghị”.

Toàn cảnh phiên họp chiều 24/8. Ảnh: Đức Thanh

Toàn cảnh phiên họp chiều 24/8. Ảnh: Đức Thanh

Toàn bộ mục tiêu, phạm vi, đối tượng thụ hưởng, thời gian thực hiện, tổng nguồn lực, cơ chế, chính sách đặc thù và nhiệm vụ trọng tâm của 4 chương trình trước khi hợp nhất được rà soát, kế thừa đầy đủ trong Chương trình mới.

Việc sắp xếp lại chủ yếu tập trung vào đầu mối quản lý, cơ chế phân bổ nguồn lực và phương thức tổ chức thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị, “không cắt giảm chính sách hoặc quyền lợi của đối tượng thụ hưởng”.

Chính phủ cũng tiếp thu yêu cầu việc hợp nhất phải thực chất, “không ghép tên hoặc cộng cơ học”. Từng dự án, nội dung thành phần được rà soát, phân loại, xác định rõ nội dung giao thoa, trùng lặp để sắp xếp lại theo hướng giảm trùng lặp, rõ trách nhiệm.

Dự thảo Nghị quyết không áp dụng một tỷ lệ cố định giữa vốn đầu tư công và kinh phí thường xuyên cho mọi nhóm nhiệm vụ. Cơ cấu nguồn lực phải bảo đảm đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, rõ kết quả đầu ra, tiết kiệm chi thường xuyên và không làm thay đổi mục tiêu, đối tượng, mức độ ưu tiên do Quốc hội quyết định.

Vốn đối ứng của địa phương được xác định phù hợp với khả năng cân đối, “không để địa phương khó khăn mất khả năng tiếp cận nguồn vốn Trung ương”.

Chuyển từ quản lý quy trình sang kết quả đầu ra

Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính, đổi mới cơ chế quản lý và phân cấp là nội dung thay đổi căn bản sau hợp nhất. Khoảng 70 văn bản hướng dẫn của 4 chương trình hiện nay dự kiến được tích hợp vào một nghị quyết của Chính phủ.

Phương thức mới giảm các khâu trung gian không cần thiết trong xác định nhu cầu, cân đối, phân bổ và quyết toán; tạo điều kiện giao vốn ngân sách trung ương cùng thời điểm giao dự toán ngân sách hằng năm.

Tinh thần xuyên suốt là “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, nhưng phân cấp phải đi cùng năng lực và trách nhiệm giải trình.

Địa phương được chủ động lựa chọn danh mục, thứ tự ưu tiên, phân bổ, điều chỉnh phân bổ chi tiết và phương thức tổ chức thực hiện trong khung Chương trình. Tuy nhiên, không được thay đổi điều kiện thụ hưởng, giảm mức ưu tiên hoặc loại bỏ chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân để tập trung vào những nội dung dễ thực hiện.

Cơ chế quản lý sẽ chuyển mạnh “từ quản lý theo quy trình sang quản lý theo kết quả đầu ra”; xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung để theo dõi nguồn lực, đối tượng và kết quả thực hiện. Kết quả Chương trình được đánh giá bằng hệ thống chỉ số cụ thể, gồm mức độ hoàn thành mục tiêu, chỉ tiêu; tiến độ, kết quả giải ngân; chấp hành chế độ báo cáo và sự hài lòng của người dân.

Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh, giá trị của việc hợp nhất “không nằm ở một tên gọi chung” mà phải được đo bằng việc chính sách đồng bộ hơn, nguồn lực đến nhanh và đúng đối tượng hơn, địa phương chủ động hơn, thủ tục ít hơn, trách nhiệm rõ hơn và cuối cùng là người dân được thụ hưởng tốt hơn./.

Hoàng Yến

Nguồn Thời báo Tài chính: https://thoibaotaichinhvietnam.vn/hop-nhat-nguon-luc-hon-808-000-ty-dong-cho-van-hoa-xa-hoi-nong-thon-dan-toc-va-mien-nui-202817.html