Hợp tác khoa học công nghệ Việt–Nga: Từ chiều sâu quan hệ đến chiều sâu kết quả
Sau nhiều thập kỷ hợp tác, Việt Nam và Liên bang Nga đã hình thành nền tảng khoa học, đội ngũ chuyên gia và mạng lưới nghiên cứu có chiều sâu. Theo Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Trần Hồng Thái, yêu cầu quan trọng nhất của giai đoạn hợp tác mới là đưa hợp tác khoa học từ chiều sâu quan hệ sang chiều sâu của kết quả và tác động phát triển.

GS.TS Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Ảnh: chinhphu.vn
Nhân chuyến thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga, thăm chính thức Cộng hòa Pháp và dự Hội nghị Thượng đỉnh Không gian vũ trụ tại Paris của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từ ngày 7-12/9/2026, GS.TS Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã có những chia sẻ về chặng đường hợp tác khoa học, công nghệ Việt Nam – Liên bang Nga, những lĩnh vực có thể mở rộng hợp tác và định hướng nâng cao năng lực khoa học, công nghệ của Việt Nam.
Nền tảng được vun đắp qua nhiều thế hệ
Theo GS.TS Trần Hồng Thái, nhìn lại toàn bộ quá trình hợp tác, đóng góp có ý nghĩa nhất của Liên Xô trước đây và Liên bang Nga ngày nay là góp phần xây dựng đội ngũ khoa học, hình thành năng lực nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khoa học và công nghệ nền tảng của Việt Nam.
Quan hệ giữa Viện Khoa học Việt Nam, tiền thân của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, với Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô được thiết lập từ những năm 1970. Sau năm 1991, quan hệ tiếp tục được duy trì với Viện Hàn lâm Khoa học Nga và được nâng cấp qua nhiều thỏa thuận hợp tác.
Trong những giai đoạn đầu, phía Nga hỗ trợ Việt Nam đào tạo cán bộ khoa học, xây dựng năng lực phòng thí nghiệm và triển khai nghiên cứu cơ bản trong nhiều lĩnh vực như toán học, cơ học, vật liệu, hóa học, khoa học trái đất, sinh học, sinh thái tài nguyên, công nghệ sinh học và khoa học biển.
Một minh chứng cho tính bền bỉ và thực chất của hợp tác là nghiên cứu biển giữa Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học Nga, trong đó có Phân viện Viễn Đông.
Từ năm 2005 đến năm 2025, hai bên đã thực hiện 9 chuyến khảo sát chung bằng tàu nghiên cứu “Viện sĩ Oparin” trên vùng biển Việt Nam. Các chương trình không chỉ dừng ở thu thập mẫu mà hình thành chuỗi nghiên cứu liên tục về đa dạng sinh học, sinh thái và vi sinh vật biển, các hợp chất thiên nhiên có hoạt tính sinh học, hóa học môi trường, vi nhựa và các hợp chất hữu cơ khó phân hủy.
Hai bên đồng thời hình thành các nhóm nghiên cứu chung, trao đổi cán bộ, chia sẻ dữ liệu, cùng công bố khoa học và đào tạo nhân lực. Năm 2025, hai bên thống nhất tiếp tục lộ trình hợp tác nghiên cứu biển giai đoạn 2026-2035.
Một trụ cột khác là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao thông qua việc Việt Nam tham gia Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân (JINR) tại Dubna. Việt Nam tham gia JINR từ năm 1956, qua đó đào tạo nhiều thế hệ nhà khoa học đầu ngành về vật lý và năng lượng nguyên tử.
Hiện gần 50 cán bộ Việt Nam đang làm việc tại JINR, trong các lĩnh vực như vật lý hạt nhân, neutron, vật liệu bền bức xạ, y học hạt nhân và thiết kế máy gia tốc. Đây được xem là nguồn nhân lực có giá trị đối với định hướng phát triển năng lượng nguyên tử phục vụ mục đích hòa bình của Việt Nam.
Từ những kết quả trên, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho rằng hợp tác Việt – Nga có thể nhìn ở ba tầng: Góp phần xây dựng nền tảng khoa học cơ bản và đội ngũ khoa học chủ chốt; tạo điều kiện để các nhà khoa học Việt Nam tiếp cận những trường phái khoa học có trình độ cao; và quan trọng hơn, từng bước chuyển từ quan hệ hỗ trợ sang quan hệ đối tác bình đẳng, cùng nghiên cứu, đầu tư nguồn lực, tạo ra tri thức và phát triển công nghệ mới.

Sinh viên Trường Đại học KH&CN Hà Nội tham quan các phòng thí nghiệm của JINR với sự hỗ trợ của công nghệ thực tế ảo - Ảnh: chinhphu.vn/Thu Giang
Từ tiếp nhận công nghệ đến làm chủ công nghệ
Trong giai đoạn mới, yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ khoa học, công nghệ đặt ra cách tiếp cận khác.
Theo GS.TS Trần Hồng Thái, tự chủ khoa học và công nghệ không đồng nghĩa với việc tự mình làm tất cả. Tự chủ phải được hiểu là năng lực hiểu công nghệ, làm chủ nguyên lý và thiết kế, tích hợp hệ thống, vận hành, bảo trì, cải tiến và đào tạo được thế hệ chuyên gia kế tiếp.
Từ cách tiếp cận này, cần tập trung vào một số lĩnh vực mà Nga có năng lực khoa học – công nghệ thực sự mạnh, Việt Nam có nhu cầu chiến lược và hai bên có khả năng cùng phát triển năng lực dài hạn. Các hướng này có mức độ giao thoa cao với Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược được ban hành theo Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg ngày 30/4/2026.
Trước hết là vật lý hạt nhân, năng lượng nguyên tử và các công nghệ liên quan đến năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình. Nga có hệ sinh thái mạnh từ nghiên cứu cơ bản, máy gia tốc, neutron, vật liệu bền bức xạ đến đào tạo kỹ sư và công nghệ năng lượng.
Điều quan trọng đối với Việt Nam không chỉ là tiếp cận thiết bị mà phải từng bước hình thành đội ngũ có khả năng thiết kế, vận hành, đánh giá an toàn và nghiên cứu phát triển. Hợp tác với JINR, ROSATOM cùng các cơ sở nghiên cứu, đào tạo của Nga cần gắn với quá trình chuẩn bị nhân lực cho Trung tâm Nghiên cứu khoa học công nghệ hạt nhân và các nhu cầu dài hạn của đất nước.
Bên cạnh đó là năng lượng mới và hệ thống năng lượng tiên tiến, gồm hydrogen, lưu trữ năng lượng, lưới điện thông minh, tích hợp năng lượng tái tạo, công nghệ điện hạt nhân và các mô hình năng lượng phát thải carbon thấp.
Trong lĩnh vực hydrogen, mục tiêu không nên chỉ dừng ở nhập khẩu một hệ thống hoàn chỉnh mà cần tiến tới làm chủ các khâu công nghệ từ vật liệu điện cực, điện phân, tinh sạch, lưu trữ, cảm biến an toàn đến pin nhiên liệu và hệ thống tích hợp.
Công nghệ lượng tử và các công nghệ số nền tảng cũng là hướng hợp tác giàu tiềm năng. Việt Nam có thể tận dụng thế mạnh về toán, vật lý, hóa học, khoa học vật liệu và cơ sở hạ tầng hiện có để nghiên cứu mô phỏng, thuật toán lượng tử, mật mã hậu lượng tử, truyền thông lượng tử, đồng thời tiếp cận hạ tầng tính toán lượng tử của Nga để đào tạo đội ngũ chuyên gia nòng cốt.
Công nghệ vũ trụ, vệ tinh nhỏ, viễn thám, UAV và các hệ thống tự hành cũng mở ra dư địa hợp tác lớn, nhất là trong giám sát tài nguyên, môi trường, thiên tai, nông nghiệp, biển và hạ tầng.
Ngoài ra, công nghệ vật liệu tiên tiến được xác định là một hướng quan trọng, khi Việt Nam có nhu cầu lớn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, còn Nga có thế mạnh nghiên cứu và công nghệ trong lĩnh vực này.
Chuyển từ “hợp tác theo đối tác” sang “hợp tác theo bài toán”
Theo GS.TS Trần Hồng Thái, yêu cầu quan trọng nhất của giai đoạn mới là đưa hợp tác khoa học từ chiều sâu quan hệ sang chiều sâu của kết quả và tác động phát triển.
Năm Khoa học và Giáo dục Việt Nam – Liên bang Nga 2026 tạo thêm khuôn khổ thuận lợi để hai nước chuyển từ những hợp tác riêng lẻ sang những chương trình có quy mô và mục tiêu chiến lược hơn.
Từ góc độ của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, định hướng là chuyển từ “hợp tác theo đối tác” sang “hợp tác theo bài toán”.
Các bài toán được ưu tiên gồm an ninh năng lượng, công nghệ hạt nhân vì mục đích hòa bình, quan trắc biển và bảo vệ tài nguyên, môi trường, ứng phó thiên tai và biến đổi khí hậu, vật liệu mới, công nghệ lượng tử, công nghệ vũ trụ, vệ tinh nhỏ, viễn thám, UAV, công nghệ sinh học và y sinh.
Sau khi xác định bài toán, hai bên sẽ lựa chọn đối tác phù hợp với từng khâu, qua đó hình thành chuỗi hợp tác liên thông từ khoa học cơ bản đến công nghệ và ứng dụng.
Viện Hàn lâm cũng định hướng xây dựng một số nhiệm vụ hợp tác chiến lược tiên phong có thời hạn đủ dài, thay vì phân tán nguồn lực vào quá nhiều đề tài nhỏ. Mỗi nhiệm vụ cần hướng tới kết quả có thể kiểm chứng như công nghệ được làm chủ, nguyên mẫu hoặc hệ thống thí điểm hoạt động tại Việt Nam, cơ sở dữ liệu, phòng thí nghiệm chung, quy trình công nghệ hoặc nhóm chuyên gia đủ năng lực tiếp tục phát triển công nghệ sau khi dự án kết thúc.
Mô hình hợp tác cũng cần thay đổi, từ “trao đổi cán bộ – hội thảo khoa học – đề tài nghiên cứu” sang đồng phát triển công nghệ. Trong đó, cần xây dựng phòng thí nghiệm và nhóm nghiên cứu chung tại Việt Nam; triển khai chương trình đồng tài trợ dài hạn gắn với bài toán cụ thể; đào tạo chuyên gia theo mô hình “train-the-trainer”; đồng thời đưa doanh nghiệp tham gia ngay từ giai đoạn R&D để hình thành chuỗi nghiên cứu – nguyên mẫu – thử nghiệm – sản xuất – thương mại hóa.
Một yêu cầu quan trọng khác là xác định rõ ngay từ đầu phần việc Việt Nam phải làm chủ, cơ chế chia sẻ dữ liệu và kết quả nghiên cứu, quyền sở hữu trí tuệ và các mốc đánh giá năng lực.
“Mục tiêu cuối cùng của chuyển giao công nghệ phải là chuyển giao năng lực làm chủ công nghệ”, GS. Trần Hồng Thái nhấn mạnh.
Theo ông, nếu sau một dự án Việt Nam chỉ có thêm một thiết bị nhưng không có thêm đội ngũ chuyên gia đủ khả năng hiểu, sửa đổi và phát triển thế hệ thiết bị tiếp theo, thì chưa thể coi đó là thành công đầy đủ của hợp tác khoa học và công nghệ.
Trong giai đoạn tới, hiệu quả hợp tác vì vậy sẽ được đánh giá không chỉ bằng số biên bản ghi nhớ hay hội thảo, mà bằng số chuyên gia Việt Nam thực sự làm chủ công nghệ, số công nghệ, quy trình và nguyên mẫu được hình thành, mức độ nội địa hóa, sở hữu trí tuệ chung, dữ liệu khoa học, cũng như khả năng công nghệ được doanh nghiệp, địa phương ứng dụng.
Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam tin tưởng rằng với nền tảng hợp tác lâu dài, độ tin cậy cao và tính bổ sung rõ rệt giữa hai nền khoa học, Việt Nam và Liên bang Nga có điều kiện để xây dựng một giai đoạn hợp tác mới thực chất hơn, có chọn lọc hơn và hướng mạnh hơn tới công nghệ chiến lược.
Đối với Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, mục tiêu cuối cùng là biến hợp tác quốc tế thành một phương thức nâng cao nội lực khoa học công nghệ quốc gia; biến tri thức chung thành năng lực của các nhà khoa học Việt Nam; và biến kết quả nghiên cứu thành những lời giải cụ thể cho các bài toán phát triển của đất nước.
