HTX lâm nghiệp mất cơ hội tăng gấp 3 lần lợi nhuận vì bán gỗ thô
Khảo sát 317 hợp tác xã (HTX) lâm nghiệp cho thấy, nhóm có sơ chế, chế biến đạt lợi nhuận bình quân 70,5 triệu đồng/ha/năm, cao gấp 3,31 lần nhóm chủ yếu bán gỗ thô. Tuy nhiên, thiếu vốn, vướng pháp lý đất rừng và liên kết thị trường yếu đang khiến phần lớn HTX khó bước sang những công đoạn có giá trị cao hơn.
Cùng khai thác nguồn lợi từ rừng, nhưng cách tổ chức sản xuất và tiêu thụ đang tạo ra chênh lệch lớn về hiệu quả kinh tế giữa các HTX lâm nghiệp.
Kết quả khảo sát 317 HTX có hoạt động lâm nghiệp tại 23 tỉnh, được công bố tại hội thảo khoa học ngày 29/10 ở Thái Nguyên, cho thấy 198 HTX, chiếm 62,4%, chủ yếu bán gỗ đứng hoặc dăm gỗ qua thương lái, với lợi nhuận bình quân khoảng 21,3 triệu đồng/ha/năm.

Toàn cảnh Hội thảo.
Trong khi đó, 43 HTX tổ chức sơ chế, chế biến bước đầu như bóc veneer hoặc xẻ gỗ đạt lợi nhuận bình quân 70,5 triệu đồng/ha/năm, cao gấp 3,31 lần.
Khoảng cách này cho thấy phần giá trị mà HTX có thể thu được không chỉ phụ thuộc vào diện tích rừng, mà còn ở khả năng tham gia các công đoạn sau khai thác.
Nhiều thành viên, ít vốn, khó mở rộng sản xuất
Tại hội thảo “Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX trong lĩnh vực lâm nghiệp”, do Viện Khoa học Kinh tế hợp tác phối hợp với Liên minh Hợp tác xã tỉnh Thái Nguyên và Công ty EREX tổ chức, ông Nguyễn Đình Hùng, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Kinh tế hợp tác, công bố những kết quả đáng chú ý về quy mô và năng lực kinh doanh của HTX.
Theo khảo sát, 317 HTX quản lý hoặc liên kết hơn 42.678 ha rừng sản xuất, với 51.712 thành viên chính thức và 11.599 thành viên liên kết. Tuy nhiên, theo tiêu chí áp dụng trong nghiên cứu, chỉ 2 HTX, tương đương 0,6%, đạt quy mô lớn; 236 HTX, chiếm 74,4%, thuộc nhóm siêu nhỏ.
Số lượng thành viên đông cũng chưa đồng nghĩa với tiềm lực tài chính mạnh. Tại Quảng Trị, trong 49 HTX được khảo sát có 32 đơn vị sở hữu từ 300 thành viên trở lên. Một số HTX có hơn 1.500 thành viên nhưng vốn điều lệ chưa đến 2 tỷ đồng.

TS. Lê Tuấn An Viện trưởng Viện Khoa học Kinh tế hợp tác phát biểu khai mạc Hội thảo.
Ngược lại, tại Lào Cai, một số HTX sản xuất quế, hồi chỉ có 41–55 thành viên nhưng đạt doanh thu khoảng 50–75 tỷ đồng mỗi năm.
Khó khăn về vốn còn thể hiện rõ ở khả năng tiếp cận tín dụng. Báo cáo cho thấy 94,8% HTX chưa thể vay vốn ưu đãi dài hạn do vướng điều kiện tài sản bảo đảm, đặc biệt liên quan đến đất lâm nghiệp. Khoảng 35,2% diện tích đất trong mẫu khảo sát chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc còn chồng lấn ranh giới.
Với chu kỳ sản xuất lâm nghiệp kéo dài, những vướng mắc này khiến HTX khó đầu tư máy móc, xây dựng cơ sở chế biến và mở rộng vùng nguyên liệu.
Thiếu vốn buộc nhiều HTX tiếp tục bán nguyên liệu thô. Lợi nhuận thấp lại hạn chế khả năng tích lũy để đầu tư chế biến, khiến tình trạng này kéo dài.
Liên kết chuỗi để giữ giá trị từ rừng
Theo ông Lê Tuấn An, Viện trưởng Viện Khoa học Kinh tế hợp tác, HTX có vai trò liên kết hộ sản xuất, tạo việc làm, nâng thu nhập và thúc đẩy quản lý rừng bền vững. Tuy nhiên, quy mô nhỏ, nguồn lực hạn chế, năng lực quản trị và kết nối thị trường còn yếu đang cản trở sự phát triển của khu vực này.
Ông cũng đề cập cơ hội từ kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và nhu cầu sử dụng phụ phẩm nông, lâm nghiệp để sản xuất năng lượng sinh khối. Để tận dụng được thị trường này, HTX cần tăng cường liên kết với doanh nghiệp và tổ chức chuỗi cung ứng nguyên liệu.

Ông Nguyễn Đình Hùng, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Kinh tế hợp tác phát biểu tham luận tại Hội thảo.
Khảo sát cho thấy các HTX đang hoạt động ở nhiều công đoạn khác nhau. Trong đó, 158 HTX thuộc nhóm trồng rừng, quản lý rừng, chứng chỉ rừng và tín chỉ carbon, quản lý hoặc liên kết 26.489 ha; 66 HTX khai thác, xẻ gỗ và chế biến gắn với 11.719 ha. Ngoài ra, 48 HTX hoạt động trong lĩnh vực lâm sản ngoài gỗ, cây dược liệu và 45 HTX cung ứng cây giống, vườn ươm.
Sự phân chia này tạo cơ sở để các HTX liên kết theo thế mạnh, thay vì mỗi đơn vị tự tổ chức toàn bộ quá trình sản xuất. HTX có diện tích rừng và nguồn nguyên liệu có thể hợp tác với đơn vị có năng lực chế biến, tiêu thụ, qua đó tăng khả năng đàm phán với doanh nghiệp thu mua.
Một trường hợp được báo cáo dẫn chứng là liên hiệp HTX tại Hà Tĩnh có 933 thành viên, gắn với 2.121 ha rừng và đạt doanh thu khoảng 55,9 tỷ đồng.
Các tham luận đề xuất tháo gỡ vướng mắc pháp lý đất rừng, nghiên cứu cơ chế tín dụng phù hợp với chu kỳ sản xuất lâm nghiệp, đồng thời phát triển cơ sở sơ chế, chế biến dùng chung và hợp đồng tiêu thụ dài hạn.
Chuẩn hóa dữ liệu vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc, áp dụng chứng chỉ rừng cũng được đặt ra nhằm đáp ứng yêu cầu thị trường. Tài chính xanh và tín chỉ carbon rừng là những hướng có thể nghiên cứu thêm, tùy điều kiện thực tế và quy định liên quan.
Với các HTX lâm nghiệp, mở rộng diện tích hay tăng thành viên chưa đủ để cải thiện hiệu quả kinh doanh. Chênh lệch lợi nhuận 21,3 triệu đồng và 70,5 triệu đồng/ha/năm trong khảo sát cho thấy vấn đề đáng quan tâm hơn là khả năng đầu tư chế biến và tiếp cận thị trường. Muốn giữ lại nhiều giá trị từ rừng, HTX cần giải quyết được bài toán vốn, pháp lý đất đai và liên kết tiêu thụ.

Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Thái Nguyên Nguyễn Văn Dũng phát biểu tại Hội thảo.

Hội thảo nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn về đất đai, vốn, chế biến và tổ chức thị trường, qua đó giúp HTX khai thác tốt hơn nguồn lực sẵn có, gia tăng giá trị sản phẩm và cải thiện thu nhập cho thành viên.

Đại diện Công ty EREX phát biểu tại Hội thảo.
