Huy động 100 đồng nhưng cho vay tới 117 đồng: Thanh khoản ngân hàng đang 'căng'
Dù lãi suất huy động liên tục được điều chỉnh tăng, áp lực cân đối nguồn vốn của hệ thống ngân hàng vẫn đang ở mức báo động khi tốc độ tăng trưởng tín dụng bỏ xa tốc độ huy động tiền gửi.
Theo các chuyên gia, sự "lệch pha" về kỳ hạn và cấu trúc vốn không chỉ đẩy lãi suất lên cao mà còn bộc lộ những rủi ro tiềm ẩn về thanh khoản, đòi hỏi những thay đổi mang tính đột phá về thể chế.
Vì sao lãi suất vẫn tăng?
Trong tuần đầu tháng 7, thị trường tài chính chứng kiến làn sóng điều chỉnh lãi suất mạnh mẽ. Một số ngân hàng đã áp dụng mức lãi suất tiền gửi trực tuyến từ 7-7,8%/năm cho kỳ hạn 6-12 tháng. Đặc biệt, với những kỳ hạn dài từ 24-36 tháng, mức lãi suất tại một số nhà băng đã vượt ngưỡng 9%.
Bên cạnh biểu lãi suất niêm yết công khai, cuộc đua lãi suất thỏa thuận cũng nóng lên từng ngày khi nhiều ngân hàng, nhất là nhóm quy mô vừa và nhỏ, liên tục tung ra các chương trình ưu đãi cộng thêm đi kèm điều kiện về số tiền gửi tối thiểu.
Không chỉ dừng lại ở thị trường huy động dân cư, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng cũng biến động mạnh. Theo thống kê của Công ty Chứng khoán MB, lãi suất qua đêm có thời điểm đã tăng vọt lên 17,25% trong quý đầu năm và duy trì mức 10,45% ở quý tiếp theo. Diễn biến này cho thấy thanh khoản hệ thống đang chịu áp lực nặng nề do huy động từ thị trường 1 (giao dịch giữa các định chế tài chính với doanh nghiệp và người dân) chưa cải thiện tương xứng với tốc độ tăng trưởng tín dụng.

Thanh khoản hệ thống đang chịu áp lực nặng nề do huy động từ thị trường 1 chưa cải thiện tương xứng với tốc độ tăng trưởng tín dụng.
Hiện nay, các ngân hàng chủ yếu huy động vốn qua bốn kênh chính: tiền gửi dân cư, phát hành trái phiếu, vay mượn liên ngân hàng và vay hợp vốn từ các tổ chức nước ngoài. Tuy nhiên, sự mất cân đối giữa các nguồn cung này đang dần lộ rõ.
Chia sẻ tại họp báo công bố kết quả hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2026, ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước), nhấn mạnh ngành ngân hàng đang đối mặt với thách thức lớn nhất là tốc độ tăng trưởng huy động vốn luôn thấp hơn tăng trưởng tín dụng.
Số liệu thực tế đã minh chứng cho nhận định này: bình quân 5 năm trở lại đây, tăng trưởng tín dụng luôn cao hơn huy động khoảng 3-4 điểm %. Tính đến ngày 15/6/2026, trong khi tín dụng đã tăng 6,38% thì huy động vốn mới chỉ tăng khoảng 4,3%. Khoảng cách chênh lệch 2% này đã đẩy tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) – một chỉ số an toàn cốt yếu – lên mức rất cao.
Cụ thể, hệ số LDR toàn hệ thống hiện dao động khoảng 112-117%. Riêng nhóm ngân hàng thương mại nhà nước duy trì ở mức 111-112%, nghĩa là cứ huy động được 100 đồng thì ngân hàng đã cho vay ra tới 111-112 đồng. Phần chênh lệch buộc phải bù đắp từ các nguồn vốn khác ngoài tiền gửi dân cư.
Mặc dù khẳng định thanh khoản hệ thống vẫn được đảm bảo, đáp ứng đầy đủ nhu cầu chi trả của người dân, nhưng ông Quang cũng thừa nhận áp lực cân đối nguồn vốn là rất lớn, và đây chính là nguyên nhân trực tiếp khiến mặt bằng lãi suất có xu hướng tăng thời gian qua.
Báo động rủi ro từ sự "lệch pha" kỳ hạn
Tại Hội thảo "Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026: Thách thức, động lực và triển vọng phát triển" ngày 9/7, các chuyên gia đã đi sâu phân tích những bất cập trong cấu trúc vốn. Ông Phạm Xuân Hòe, Nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng, cho biết tín dụng vẫn là kênh chủ lực cung ứng tới 50-57% vốn cho nền kinh tế. Sự phụ thuộc quá lớn này đang đẩy hệ thống vào trạng thái căng thẳng tột độ khi tổng nguồn vốn huy động chỉ đạt hơn 17 triệu tỷ đồng (tăng trưởng khiêm tốn ~3%), trong khi dư nợ tăng quá nhanh.
Dưới góc nhìn định lượng, TS. Lý Đại Hùng, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới cảnh báo tỷ lệ LDR hiện đã vọt lên mức 110% - 115% tùy mô hình tính toán, vượt xa ngưỡng an toàn và tiềm ẩn rủi ro căng thẳng thanh khoản hệ thống.
Đáng lo ngại hơn, bên trong bức tranh tín dụng là một "lỗi" cơ cấu nghiêm trọng: Khoảng 80% nguồn vốn huy động là ngắn hạn (dưới 12 tháng), nhưng hệ thống lại đang gánh tới 47% dư nợ cho vay trung và dài hạn. Chuyên gia Phạm Xuân Hòe chỉ rõ điểm yếu cốt tử này là sự "lệch pha kỳ hạn", với con số ước tính lên tới 5,7 - 5,9 triệu tỷ đồng. Việc dùng vốn ngắn hạn cho vay dài hạn không chỉ gây áp lực thanh khoản mà còn ngăn cản đà giảm của lãi suất.
Để ứng phó, các Thông tư như 08/2026 hay 25/2026 đã được ban hành nhằm nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40%. Tuy nhiên, ông Hòe thẳng thắn nhìn nhận đây chỉ là giải pháp tình thế, đồng thời cảnh báo về nguy cơ lợi dụng chính sách để đảo nợ, che đậy nợ xấu (NPL).
Trong bối cảnh hệ thống ngân hàng căng thẳng, các doanh nghiệp nội, đặc biệt là khối doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), vẫn đang "khát" vốn giữa một rừng điều kiện. Khảo sát của VCCI cho thấy 93,5% các khoản vay hiện nay vẫn yêu cầu tài sản thế chấp. Ông Phạm Ngọc Thạch, Phó Trưởng ban Pháp chế VCCI, kiến nghị cần thay đổi tư duy cấp tín dụng: chuyển từ dựa vào tài sản đảm bảo sang cho vay dựa trên dòng tiền và phương án kinh doanh.
Đồng quan điểm, TS. Lý Đại Hùng phân tích thêm về sự bất cân đối: thặng dư tiết kiệm hiện chủ yếu nằm ở khu vực FDI, trong khi khu vực trong nước vẫn thâm hụt, khiến doanh nghiệp nội chịu sức ép kép về chi phí vốn và khả năng tự chủ tài chính.
Để thoát khỏi áp lực này, các chuyên gia cho rằng Việt Nam cần một cuộc cải cách thể chế quyết liệt để xây dựng hệ sinh thái tài chính đa tầng. Lộ trình đề xuất gồm hai giai đoạn: Giai đoạn 2026-2027 tập trung vào đột phá thể chế để khơi thông thị trường tài sản, vốn; và giai đoạn tiếp theo là nâng cao tính tự chủ, tận dụng các khe hở chiến lược để khai thác dòng vốn ngoại và công nghệ.
Trong khi đó, ông Phạm Xuân Hòe nhấn mạnh vào việc phát triển các định chế tài chính phi ngân hàng và xử lý dứt điểm nợ xấu: Tái cấu trúc triệt để hệ thống ngân hàng; Xử lý 1 triệu tỷ đồng nợ xấu và phát triển mạnh kênh cung ứng vốn dài hạn từ tổ chức cho vay không nhận tiền gửi.












