Huy động vốn gần 1.500 tỷ USD: Việt Nam tìm nguồn ở đâu?
Huy động vốn gần 1.500 tỷ USD trong giai đoạn 2026-2030 là nhu cầu được tính toán theo kịch bản Việt Nam tăng trưởng GDP 10%/năm. Trong khi tín dụng ngân hàng đang chiếm khoảng một nửa nguồn vốn cung ứng cho nền kinh tế, nhiều nguồn lực tài chính vẫn chưa được khai thác tương xứng. Phát triển thị trường vốn, thu hút dòng vốn quốc tế và tháo gỡ những điểm nghẽn thể chế trở thành yêu cầu cấp thiết.
Ngân hàng gánh nửa nguồn vốn, thị trường vốn vẫn yếu
Nhu cầu huy động vốn cho tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đang gia tăng trong giai đoạn phát triển mới. Tại phiên chuyên đề “Trung tâm tài chính quốc tế: Làm thế nào để thu hút dòng vốn toàn cầu”, thuộc Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026, sáng 27/10 tại Tp.HCM, TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính - Tiền tệ Quốc gia đã phân tích những bất cập trong cơ cấu nguồn vốn và khả năng đáp ứng nhu cầu đầu tư của nền kinh tế.

TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV trình bày các giải pháp huy động và phân bổ nguồn lực tài chính phục vụ mục tiêu tăng trưởng cao của Việt Nam tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026.
Theo ông Lực, từ thời kỳ Đổi mới đến nay, vốn luôn giữ vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Với kịch bản GDP tăng 10%/năm giai đoạn 2026-2030, tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội ước khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương 1.480 tỷ USD, bình quân 296 tỷ USD mỗi năm. Tỷ lệ đầu tư cần duy trì ở mức 38-40% GDP, tốc độ tăng vốn đầu tư khoảng 13-15%/năm.
Trong kịch bản này, vốn dự kiến đóng góp 40-42% vào tăng trưởng kinh tế, còn năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp 53–55%. Cơ cấu nhu cầu đầu tư gồm 22% vốn nhà nước, 12,5% FDI thực hiện và 65,5% từ khu vực tư nhân trong nước cùng các nguồn khác. Riêng khu vực tư nhân trong nước và các nguồn khác cần đáp ứng khoảng 25,2 triệu tỷ đồng, phản ánh quy mô nguồn lực phải huy động ngoài khu vực nhà nước.
Đối với Tp.HCM, nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 ước khoảng 8,34 triệu tỷ đồng, tương đương 320 tỷ USD, bình quân gần 1,7 triệu tỷ đồng mỗi năm. Vốn nhà nước dự kiến chiếm 29-30%, FDI thực hiện khoảng 20–22%, còn khu vực tư nhân trong nước và các nguồn khác chiếm 49–50%. Quy mô vốn Thành phố cần huy động tương đương gần 22% nhu cầu cả nước.
Áp lực lớn nhất hiện nằm ở sự mất cân đối giữa các kênh cung ứng vốn. Theo số liệu nhóm nghiên cứu BIDV, tín dụng ngân hàng chiếm 50,2% tổng nguồn vốn cung ứng cho nền kinh tế trong chín tháng đầu năm 2026, trong khi thị trường cổ phiếu chỉ chiếm 3,1% và trái phiếu doanh nghiệp chiếm 10%. Hai kênh này cộng lại mới đạt 13,1%, còn khá xa so với tỷ trọng tín dụng ngân hàng.
Thị trường vốn chưa phát huy đầy đủ vai trò cung ứng nguồn lực trung và dài hạn, khiến nền kinh tế tiếp tục phụ thuộc lớn vào tín dụng. Tỷ lệ tín dụng ngân hàng so với GDP đạt 144,3% năm 2025. Nếu GDP tăng 10%/năm và tín dụng tăng 15%/năm, quy mô tín dụng có thể tương đương 180% GDP vào cuối năm 2030, theo tính toán được ông Lực trình bày.

Tín dụng ngân hàng chiếm 50,2% cơ cấu cung ứng vốn cho nền kinh tế trong 9 tháng đầu năm 2026. Nguồn: Viện Nghiên cứu Kinh tế BIDV.
Sức ép đối với hệ thống ngân hàng còn thể hiện qua chênh lệch giữa tín dụng và tiền gửi. Đến cuối tháng 9/2026, tổng dư nợ tín dụng cao hơn tiền gửi gần 2 triệu tỷ đồng. Trong điều kiện lạm phát và mặt bằng lãi suất còn chịu nhiều áp lực, dư địa giảm lãi suất không lớn. Thị trường cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp và các quỹ đầu tư cần phát triển tương xứng hơn để mở rộng nguồn vốn cho nền kinh tế.
Hiệu quả đầu tư cũng là vấn đề đáng quan tâm. Hệ số ICOR của Việt Nam giai đoạn 2021-2025 ở mức 6,4 lần, trong khi mục tiêu giai đoạn 2026-2030 là giảm xuống 4,5-4,8 lần. Dẫn kinh nghiệm quốc tế, ông Lực cho biết Trung Quốc từng đạt tăng trưởng GDP bình quân 10,5% với ICOR 3,7; Hàn Quốc tăng trưởng 10,8% với ICOR 2,6 và Singapore tăng trưởng 12,1% với ICOR 3,1 trong những thời kỳ tăng trưởng cao tương ứng.
Bảy nguồn lực cho bài toán gần 1.500 tỷ USD
Theo TS. Cấn Văn Lực, Việt Nam vẫn có nhiều nguồn lực tài chính tiềm năng phục vụ tăng trưởng. Tỷ lệ tiết kiệm năm 2025 đạt khoảng 35% GDP, cao hơn mức đầu tư khoảng 30,8% GDP. Tuy nhiên, năm 2026, tỷ lệ tiết kiệm được ước tính giảm còn 33,2% GDP, trong khi tỷ lệ đầu tư khoảng 32-33% GDP. Khoảng cách thu hẹp khiến việc phát triển thêm các kênh huy động vốn trở nên cần thiết.
Trong 7 nguồn tài lực tiềm năng được ông Lực đề cập, tài chính xanh và tài chính bền vững quốc tế là một hướng quan trọng. Khả năng tiếp cận những dòng vốn này phụ thuộc vào việc xây dựng các chương trình, dự án cụ thể, đáp ứng điều kiện triển khai và giải ngân. Những thỏa thuận hợp tác cần được chuyển thành dự án đầu tư thực tế.
Nguồn lực tiếp theo đến từ thặng dư thương mại hàng hóa và dịch vụ, thu hút FDI, kiều hối và du lịch. Bên cạnh đó, việc nâng hạng thị trường chứng khoán theo các tiêu chuẩn quốc tế, cùng mục tiêu nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức đầu tư trước năm 2030, được xác định là những hướng tăng khả năng tiếp cận dòng vốn quốc tế.
Trung tâm Tài chính Quốc tế tại Tp.HCM và Đà Nẵng cũng nằm trong các nguồn tài lực tiềm năng. Việc phát triển các trung tâm này gắn với tiến trình hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực quản lý và mở rộng các kênh huy động tài chính. Cùng với đó, thị trường tài sản số, bao gồm tài sản mã hóa, và thị trường carbon được đề cập như những lĩnh vực có khả năng tạo thêm nguồn lực cho nền kinh tế.
Nguồn vốn còn nằm ở những dự án, tài sản đang bị ách tắc, tồn đọng hoặc chưa được khai thác hiệu quả. TS. Cấn Văn Lực đề nghị đẩy nhanh xử lý các dự án kéo dài, tài sản công dôi dư, tăng cường chống tham nhũng, lãng phí và huy động nguồn lực tích trữ trong dân. Việc đẩy nhanh hoàn thuế VAT, các khoản thuế, phí khác và tăng vòng quay tiền cũng được đặt ra nhằm cải thiện khả năng luân chuyển vốn.

Hệ số ICOR của Việt Nam giai đoạn 2021-2025 ở mức 6,4 lần, mục tiêu giảm xuống 4,5-4,8 lần trong giai đoạn 2026-2030. Nguồn: Bộ Tài chính, Viện Nghiên cứu Kinh tế BIDV.
Tuy nhiên, hoạt động huy động vốn vẫn chịu tác động từ những hạn chế của thị trường tài chính. Theo ông Lực, thể chế trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm và các mô hình kinh doanh mới cần tiếp tục hoàn thiện. Thị trường vốn phát triển chưa tương xứng, rủi ro liên thông giữa tài chính và bất động sản còn đáng quan tâm, trong khi hạ tầng dữ liệu, chuẩn mực báo cáo và dịch vụ xếp hạng tín nhiệm vẫn tồn tại nhiều bất cập.
Đối với những mô hình tài chính mới, ông Lực đề xuất xây dựng khung pháp lý trên nguyên tắc quản lý theo rủi ro, thay vì căn cứ vào tên gọi của mô hình kinh doanh. Cách tiếp cận này được đặt trong yêu cầu hoàn thiện thể chế thị trường tài chính theo hướng đồng bộ, thống nhất, ổn định và trung lập hơn.
Thị trường cổ phiếu, trái phiếu, công cụ phái sinh, tài chính xanh và tài chính số cần được phát triển theo các chiến lược, đề án đã ban hành. Cùng với nâng cao năng lực giám sát rủi ro hệ thống, an toàn vốn, an ninh mạng và dữ liệu, các quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, bảo lãnh tín dụng, đầu tư mạo hiểm, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo cần phát huy hiệu quả hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực.
Đầu tư công cũng được đề nghị cơ cấu lại, dành thêm nguồn lực cho khoa học công nghệ, hạ tầng số, giáo dục, y tế và các lĩnh vực chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, năng lượng và lao động. Việc tháo gỡ dự án tồn đọng, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và nâng cao hiệu quả phối hợp chính sách tài khóa, tiền tệ sẽ góp phần cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh.


