Huyền bí đền Xà phát tích bài thơ 'Nam quốc sơn hà'

Ngôi đền cổ tọa lạc ở bờ Nam sông Cầu, trên bãi bồi tại ngã ba Xà - nơi hợp lưu của sông Cà Lồ và sông Cầu trước khi đổ về Lục Đầu Giang.

Đền Xà - nơi thờ thánh Tam Giang.

Đền Xà - nơi thờ thánh Tam Giang.

Đền Xà bên ngã ba sông không chỉ là nơi lưu giữ huyền tích về bài thơ thần “Nam quốc sơn hà”, mà còn là chốn linh thiêng thờ phụng nhị vị đức thánh Tam Giang. Trải qua bao biến thiên của lịch sử, ngôi đền vẫn lặng lẽ đứng đó, như một dấu mốc văn hóa - tâm linh in đậm trong ký ức của vùng đất Kinh Bắc.

Ngôi đền cổ tọa lạc ở bờ Nam sông Cầu, trên bãi bồi tại ngã ba Xà – nơi hợp lưu của sông Cà Lồ và sông Cầu trước khi đổ về Lục Đầu Giang. Chính tại làng Xà xưa (nay thuộc xã Tam Giang, tỉnh Bắc Ninh), theo truyền tụng dân gian, bài thơ thần “Nam quốc sơn hà” đã cất lên giữa đêm khuya sông nước, khẳng định chủ quyền thiêng liêng của dân tộc.

Không chỉ gắn với bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên ấy, vùng đất này còn lưu giữ huyền tích về đức thánh Tam Giang - hai vị tướng Trương Hống và Trương Hát, những danh tướng phò vua Triệu Quang Phục chống giặc ngoại xâm.

Sống là tướng tài, chết hóa thần linh

Theo Ban Quản lý di tích đền Xà, các nguồn tư liệu như sắc phong, ngọc phả, thần phả đều khẳng định thánh Tam Giang chính là hai tướng Trương Hống và Trương Hát. Hai ông không chỉ là danh tướng thời Triệu Quang Phục, mà còn gắn với truyền thuyết về sự ra đời của bài thơ thần “Nam quốc sơn hà”.

Danh xưng thánh Tam Giang xuất phát từ sắc phong của các triều đại phong kiến, tôn hai ông là “Tam Giang thượng đẳng thần”. Tên gọi ấy gắn với vùng hợp lưu của ba con sông: Sông Cầu, sông Thương và sông Cà Lồ. Trong tâm thức dân gian, hai anh em thánh Tam Giang hiện lên như những bậc tướng lĩnh trí dũng song toàn, được ngợi ca bằng câu “sinh vi dũng tướng, tử vi minh thần”.

Theo truyền thuyết, Trương Hống và Trương Hát sinh ra trong một gia đình có năm anh em (bốn trai, một gái), cùng chào đời vào tháng Giêng năm Nhâm Ngọ (502) tại làng Vân Mẫu, xứ Kinh Bắc. Mẹ là bà Phùng Từ Nhan, sinh năm 483, vào thời Nam – Bắc triều.

Thần phả đền Vân Mẫu kể rằng, năm 500, bà Phùng Từ Nhan nằm mộng thấy Thần Long ở sông Lục Đầu, sau đó mang thai và sinh một bọc năm con. Tin rằng các con là hậu duệ thiên thần, bà lấy họ Trương đặt tên cho cả năm anh em. Được theo học Lã Thị tiên sinh, họ sớm nổi tiếng thông minh, tinh thông kinh sử, binh thư và võ nghệ, trở thành những con người văn võ song toàn.

Năm 545, nhà Lương sai các tướng Dương Phiêu và Trần Bá Tiên sang xâm lược Vạn Xuân. Lý Nam Đế thân chinh cầm quân chống giặc, song do thế lực suy yếu, buộc phải rút về núi Khuất Lão (Phú Thọ), trao binh quyền cho Triệu Quang Phục rồi qua đời tại đây. Triệu Quang Phục đưa quân về cố thủ ở đầm Dạ Trạch (Hưng Yên), đồng thời ban hịch chiêu mộ hiền tài, tập hợp lực lượng kháng chiến.

Hưởng ứng lời hiệu triệu, Trương Hống và Trương Hát xin phép thầy trở về quê mộ quân. Khi đến làng Tiên Tảo (phủ Đa Phúc, lộ Bắc Giang), nhận thấy địa thế hiểm yếu, tiến thoái thuận lợi, hai ông hạ trại, chiêu dụ nhân dân, kêu gọi tập hợp nghĩa binh, lấy sức dân bản xứ chống giặc ngoại xâm, phò trợ Triệu Việt Vương giữ yên bờ cõi. Trước khí phách và uy tín của hai ông, các bậc phụ lão trong vùng đều cảm phục, cho con cháu theo nghĩa quân.

Trước thế mạnh của quân Lương, Triệu Quang Phục chủ trương không đối đầu trực diện mà lui về cố thủ ở đầm Dạ Trạch. Ban ngày, quân Vạn Xuân không để lộ dấu vết, khói lửa; ban đêm, dùng thuyền độc mộc bất ngờ tập kích doanh trại địch. Quân Trần Bá Tiên nhiều lần truy đuổi nhưng không thể tiến sâu vào vùng đầm lầy hiểm trở.

Đến năm 548, nội bộ nhà Lương xảy ra biến loạn, Trần Bá Tiên buộc phải rút quân về nước cứu vua. Cuộc xâm lược chấm dứt, đất nước tạm yên. Sau khi Triệu Quang Phục lên ngôi, Lý Phật Tử – hậu duệ của Lý Nam Đế – đem quân chống lại nhưng không giành được thắng lợi. Thất thế trên chiến trường, Lý Phật Tử chuyển sang dùng kế cầu hòa, xin gả con trai là Nhã Lang cho Cảo Nương, con gái Triệu Việt Vương.

Trương Hống và Trương Hát nhiều lần can gián Triệu Quang Phục không nên gả Cảo Nương, song nhà vua không nghe. Cuối cùng, Triệu Việt Vương mắc mưu, bị đánh úp và thất bại. Lý Phật Tử lên ngôi, biết hai ông là bậc tướng tài nên sai người mời ra làm quan để thu phục. Tuy nhiên, Trương Hống và Trương Hát vẫn một lòng trung nghĩa, kiên quyết từ chối, khẳng khái đáp: “Tôi trung chẳng thờ hai vua, gái trinh chẳng đổi hai chồng”.

Không thể khuất phục được khí tiết ấy, Lý Phật Tử hạ lệnh truy bắt. Hai ông phải lánh vào núi Phù Long ẩn náu. Vua nhiều lần sai quân truy nã nhưng không có kết quả, bèn treo thưởng ngàn vàng để tìm bắt. Trước tình thế hiểm nghèo, Trương Hống và Trương Hát bàn bạc cùng gia quyến xuôi dòng sông Cầu, uống thuốc độc tuẫn tiết, quyết giữ trọn lòng trung với Triệu Việt Vương.

Sau khi mất, hai ông được Ngọc Hoàng Thượng đế phong làm thần sông. Nhân dân dọc theo sông Cầu, cùng những vùng đất từng in dấu chân các ông, thương tiếc lập đền thờ phụng, tôn hai ông làm Thần, lưu truyền tiếng thơm về lòng trung nghĩa bền bỉ cùng năm tháng.

 Cây di sản tại ngã ba Xà.

Cây di sản tại ngã ba Xà.

Huyền tích bài thơ thần “Nam quốc sơn hà”

Trong các truyền thuyết gắn với Trương Hống và Trương Hát, nổi bật hơn cả là câu chuyện về sự ra đời của bài thơ “Nam quốc sơn hà”. Truyền thuyết này được ghi chép sớm trong Việt điện u linh (năm 1329), sau đó tiếp tục xuất hiện trong nhiều bộ chính sử và dã sử quan trọng như Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử tiêu án, Việt sử tiệp kính, cùng các bộ địa chí, bách khoa thư cổ và những bản thần tích lưu truyền trong dân gian.

Theo truyền thuyết, năm Tân Tỵ, niên hiệu Thiên Phúc (981) triều Tiền Lê, vua Tống Thái Tông sai các tướng Nhân Bảo và Tôn Toàn đem quân xâm lược phương Nam, tiến đến cửa biển Đại Than. Trước thế giặc mạnh, vua Lê Đại Hành cùng tướng quân Phạm Cự Lượng dựng lũy, cầm cự và chặn đánh quân Tống tại sông Đồ Lỗ.

Một đêm, Lê Đại Hành nằm mộng thấy một vị thần hiện lên giữa dòng sông, cúi mình bái lạy. Vị thần tự xưng khi còn sống từng theo vua đánh giặc, sau khi mất được Thượng đế thương tình phong làm thủy thần, thống lĩnh các đạo âm binh. Nay thấy quân Tống xâm phạm bờ cõi, vị thần xin được phò trợ triều đình, cứu dân, giữ nước.

Tỉnh dậy, nhà vua thắp hương khấn vái, làm lễ cầu đảo, dâng hương hoa cúng tế. Đêm ấy, vua lại mộng thấy vị thần thống lĩnh âm binh tiến đánh quân Tống. Đến canh ba đêm tháng Mười, trời đất bỗng tối sầm, mưa to gió lớn nổi lên dữ dội, khiến doanh trại giặc rối loạn, quân Tống kinh hoàng, tan tác bỏ chạy. Trong cơn bão tố, vị thần ẩn mình giữa không trung, cất tiếng ngâm vang bài thơ:

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư,

Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư.

Như hà Bắc lỗ lai xâm phạm,

Hội kiến thịnh trần tận tảo trừ”.

Sau chiến thắng, vua Lê Đại Hành phong thưởng cho tướng sĩ và truy phong công lao của hai vị thần. Một vị được tôn là Khước Địch đại vương, lập đền thờ tại ngã ba sông Long Nhãn; vị còn lại được phong là Uy Linh đại vương, lập đền thờ ven sông Như Nguyệt.

Một truyền thuyết khác kể rằng, vào thời Nam Tấn Vương nhà Ngô đi đánh giặc Lý Huy ở Long Châu (Tây Long), nhà vua đóng quân tại cửa Phù Lan, vùng sông Lục Đầu. Một đêm, vua mộng thấy hai người mặc y quan kỳ vĩ, diện mạo khôi ngô, đến xin được tòng quân trợ chiến.

Hai vị thần tự thuật rằng khi còn sống từng theo Triệu Quang Phục đánh giặc, sau khi mất được Thượng đế thương tình vì chết chưa trọn số mệnh, nên phong làm Thủy thần. Tỉnh dậy, vua sai bày cỗ rượu đến điện tế. Vài ngày sau, vua lại mộng thấy hai vị Thần Vương thống lĩnh binh mã hội tụ tại cửa Phù Lan. Sau giấc mộng ấy, quân nhà Ngô quả nhiên đại thắng, bình định xong giặc Tây Long. Nhà vua liền sai sứ chia nơi lập đền thờ, phong cả hai làm Phúc thần trấn giữ một phương.

Đến thời vua Lý Nhân Tông (năm 1075), quân Tống lại kéo sang xâm lược nước ta. Nhà vua sai Thái úy Lý Thường Kiệt đóng cọc, lập phòng tuyến bên bờ sông để ngăn giặc. Một đêm, quân sĩ nghe trong đền vang lên tiếng ngâm bài thơ thiêng:

“Sông núi nhà Nam Nam đế ở

Phân minh trời định tại thiên thư

Cớ sao nghịch lỗ sang xâm phạm?

Bọn chúng rồi đây sẽ bại hư”.

Quả nhiên, quân Tống chưa kịp giao chiến đã tan rã, buộc phải rút lui. Điềm ứng linh thiêng của Thần hiển hiện rõ ràng, càng khắc sâu niềm tin của nhân dân vào sự phù trợ của thánh Tam Giang đối với vận mệnh non sông.

 Bản đồ chiến tuyến sông Như Nguyệt trưng bày tại di tích đền Xà.

Bản đồ chiến tuyến sông Như Nguyệt trưng bày tại di tích đền Xà.

 Phòng tuyến Như Nguyệt không chỉ gắn liền chiến công của nhà Lý, mà còn gắn với huyền tích ra đời bài thơ 'Nam quốc sơn hà'.

Phòng tuyến Như Nguyệt không chỉ gắn liền chiến công của nhà Lý, mà còn gắn với huyền tích ra đời bài thơ 'Nam quốc sơn hà'.

Dấu xưa nơi ngã ba Xà

Thông tin từ Sở VH,TT&DL tỉnh Bắc Ninh cho biết, hiện có 372 làng, xã dọc tuyến sông Cầu, từ “Thượng ngã ba Xà đến hạ Lục Đầu Giang”, thờ phụng thánh Tam Giang. Trong số đó, đền Xà không chỉ được xem là nơi phát tích bài thơ “Nam quốc sơn hà”, mà còn là đền thờ chính.

Dù hình thành từ rất sớm, những dấu tích kiến trúc cổ còn lưu giữ tại đền Xà như nền móng, chân cột, gạch ngói và một số cổ vật chủ yếu thuộc thời Lê trung hưng, cho thấy ngôi đền đã trải qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đền Xà từng bị tàn phá nặng nề.

Đến năm 1993, ngôi đền được phục dựng, tái hiện diện mạo như ngày nay. Đền không chỉ ghi dấu chiến công oanh liệt của quân dân nhà Lý trên phòng tuyến Như Nguyệt, thể hiện tài năng quân sự kiệt xuất của Lý Thường Kiệt, mà còn là không gian linh thiêng, phụng thờ hai vị thánh Tam Giang – bậc anh linh được nhân dân tin tưởng luôn dõi theo và phù trợ dân tộc trước họa xâm lăng phương Bắc.

Về kiến trúc, đền Xà hiện gồm hai tòa chính: Tiền tế 5 gian, 2 mái, kiểu bình đầu bít đốc tay ngai, cột trụ lồng đèn; và Hậu cung 3 gian, nối với nhau bằng tòa chuyển bồng hai tầng mái, tạo thành tổng thể hình chữ Công. Tòa Tiền tế có 6 bộ vì, mỗi bộ gồm 4 hàng chân cột, kết cấu khung gỗ chịu lực, vì nóc kiểu “thượng chồng rường giá chiêng, hạ kẻ ngồi bẩy hiên”.

 Tượng thờ thánh Tam Giang trong đền Xà.

Tượng thờ thánh Tam Giang trong đền Xà.

Hệ thống cửa thượng song hạ bản mở tại ba gian giữa, trong khi hai hồi xây tường kín, trổ cửa sổ hình chữ Thọ tròn. Các cấu kiện kiến trúc được bào trơn, soi gờ chỉ và trang trí hoa lá cách điệu. Hậu cung gồm 4 bộ vì, kết cấu tương tự nhưng giản lược trang trí, tạo cảm giác trang nghiêm và tĩnh tại.

Giá trị nổi bật của đền Xà còn thể hiện qua hệ thống cổ vật phong phú, gồm tượng thờ thời Nguyễn và 14 đạo sắc phong, trong đó sắc phong sớm nhất có niên đại 1670, muộn nhất là 1909. Theo sách Tư liệu Hán Nôm huyện Yên Phong (2005), đền còn lưu giữ một cuốn thần tích niên đại Cảnh Hưng 27 (1766). Ngoài ra, trong đền còn có tượng Táo Quân, gắn với truyền thuyết dân gian về nhân vật được thờ.

Với những giá trị lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng đặc biệt, đền Xà được xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia từ năm 1988.

Hội đền Xà được tổ chức hằng năm vào ngày mồng 10 tháng 4 âm lịch, kéo dài ba ngày, từ mùng 8 đến hết mùng 10. Lễ tế chính diễn ra vào các ngày mùng 9 và mùng 10, với lễ vật truyền thống gồm xôi, gà, thịt lươn, hương đăng, trầu rượu, do đội tế của làng đảm nhiệm. Bên cạnh đó, vào mùng 5 tháng Giêng và các ngày rằm hàng tháng, dân làng đều ra đền hương khói, phụng thờ.

Trần Hòa

Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/huyen-bi-den-xa-phat-tich-bai-tho-nam-quoc-son-ha-post767304.html