Ngựa chiến trong sử Việt

Đọc tiểu thuyết lịch sử Trung Quốc, chúng ta thường mê mẩn với những chiến mã nổi tiếng như Chiếu Dạ Ngọc Sư Tử, Xích Thố, Ô Vân Đạp Tuyết, Đích Lư... Nhưng, ít người biết rằng, trong lịch sử nước ta, cũng không hiếm những chiến mã lừng danh. Chỉ có điều, chúng ta ít tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng để đưa câu chuyện đến với đông đảo công chúng.

“Mỹ danh” ngựa chiến

Ngựa chiến Đại Việt cũng có nhiều con có tên rất kiêu dũng, nhưng ít được biết đến. Như thời Lý Thái Tổ, năm Thuận Thiên thứ 3 (1012), nhà vua cầm quân đi đánh Diễn Châu, “Đại Việt sử ký toàn thư” cho biết: “Trong tàu ngựa nhà vua, có con ngựa trắng, phàm khi vua sắp đi thì nó tất hí lên trước”. Ngựa mà nhạy bén với chiến trận thế kể cũng hiếm, vì vậy Lý Thái Tổ đặt cho con ngựa chiến độc đáo này tên Bạch Long thần mã.

Vua Quang Trung.

Vua Quang Trung.

Vua Lý Thánh Tông còn có tới 4 con ngựa chiến được đặt tên đẹp. Năm Minh Đạo thứ 2 (1043), người châu Văn làm phản. Tháng 3 năm đó, nhà vua sai Phụng Càn vương Lý Nhật Trung làm Đô thống nguyên soái đi đánh. Dẹp yên châu Văn, Phụng Càn vương dâng 4 con ngựa tốt bắt được. Vua hài lòng với dàn ngựa này, nên đã đặt tên cho chúng lần lượt là Tái Thiên, Quảng Thắng, Truy Phong, Nhật Ngự.

Nếu độc giả của “Tam quốc diễn nghĩa” nhớ mãi điển tích ngựa Đích Lư nhảy qua con suối rộng Đàn Khê, cứu được Thục chủ Lưu Bị khỏi sự truy đuổi của Sái Mạo, thì trong lịch sử nước ta, cũng có câu chuyện tương tự.

Toàn thư” ghi rằng, cuối đời Trần, năm Xương Phù thứ 7 (1383) đời Vua Trần Phế Đế, ở miền địa đầu biên giới Đại Việt giáp với Chiêm Thành, có viên Độc bạ là Trần Công Niếu cưỡi ngựa tuần tra tình hình, bất ngờ gặp giặc đuổi theo, liền quay ngựa bỏ chạy. Khi đến địa hạt Cát Giang, bị ngăn cách con ngòi rộng đến một trượng (khoảng 4m). Bất ngờ con ngựa của Công Niếu đạp đất nhảy qua ngòi, thoát được. Công Niếu cảm kích, bèn đặt tên cho con ngựa là Tử Bất Tề (tả màu lông của ngựa tím không đều).

Có một ngựa chiến được đặt tên riêng vì sắc lông đặc biệt nữa, đó là chiến mã của Vua Trần Duệ Tông. Trong chiến dịch đánh Chiêm Thành năm 1377, sử sách mô tả nhà vua “mặc áo đen, cưỡi ngựa Nê Thông, sai Ngự Câu vương Húc mặc áo trắng, cưỡi ngựa trắng, truyền lệnh tiến quân”. Sử quan chú thích, ngựa Nê Thông là “loại ngựa lông sắc trắng, sắc đen chen nhau như màu bùn”. Tuy nhiên, chú ngựa này không đem lại may mắn cho Vua Trần Duệ Tông, trong khi Ngự Câu vương thì “bị giặc bắt, đem con gái gả cho”.

Ngược về thời Lý, sử sách ghi lại rất nhiều trường hợp dâng lên vua những loài ngựa có sắc lông lạ. Như thời Lý Thần Tông, tháng 6 năm Thiên Thuận thứ 2 (1129), có viên Nhập nội Long đồ là Mâu Du Đô dâng ngựa trắng bờm đen, 4 chân có cựa. Hay, năm Thiên Chương Bảo Tự thứ 2 (1134), viên Lệnh thư gia Nguyễn Mỹ dâng con ngựa màu hoa đào, đầu xanh, 4 chân mọc 6 cựa (2 chân trước đều 1 cựa, 2 chân sau đều 2 cựa).

Do Vua Thần Tông nhận nhiều loài vật lạ, nên sử quan Lê Văn Hưu thời Trần khi soạn sử đã phê rằng: “Phàm người xưa gọi là điềm lành, là nói việc được người hiền và được mùa, ngoài ra không có gì đáng gọi là điềm lành cả. Huống chi, chim quý thú lạ không nuôi ở quốc đô cũng là lời khuyên răn của tiên vương để lại”. Dù vậy, thì những chú ngựa lạ này chắc cũng để... trưng bày là chính, không được sử dụng làm chiến mã, cũng không được Vua Lý Thần Tông đặt tên.

Đến triều Nguyễn, sử sách ghi lại rằng Vua Minh Mạng đặt cho ngựa trong tàu của mình những cái tên đẹp, như Phúc Thông, Cát Thông, Phúc Lưu, Cát Lưu, Thiên Mã...

Ngựa với chiến tướng

Người Việt dùng ngựa trong chiến trận từ khi nào, sử sách không ghi chính xác. Như vào thời vua Triệu cai trị nước ta, sáp nhập vào nước Nam Việt, năm thứ 2 đời Triệu Văn Vương (135 TCN), nước Mân Việt đánh Nam Việt, nhà Hán xuất quân ứng cứu theo hẹn ước. Tuy nhiên, Hoài Nam vương nhà Hán là Lưu An dâng thư lên vua Hán nói rằng: “Người Việt nhân tài, vật lực yếu mỏng, không biết đánh bộ, lại không biết dùng xe ngựa, cung nỏ, thế mà không thể đem quân vào được là vì họ giữ đất hiểm, mà người Trung Quốc thì không quen thủy thổ”. Theo lời ấy thì có lẽ lúc đó dân đất Việt (cả miền Bắc nước ta và vùng Lưỡng Quảng), chưa thạo việc dùng ngựa đánh trận.

Còn trong huyền sử thì ngựa chiến đã xuất hiện từ câu chuyện về Phù Đổng Thiên Vương, ở thời Hùng Vương thứ 6, với truyền thuyết về ngựa sắt, giáp sắt, roi sắt. Chính sử thì ghi chép giản dị hơn. Theo “Toàn thư”. cậu bé làng Phù Đổng chỉ xin vua “một thanh gươm, một con ngựa, vua không phải lo gì”. Khi nhận được gươm và ngựa, “đứa trẻ liền phi ngựa vung gươm tiến lên trước, quan quân theo sau, đánh tan quân giặc ở chân núi Vũ Ninh”. Sau khi đánh tan giặc, cậu bé phi ngựa lên trời.

Mô típ thần thoại tương tự còn xuất hiện cả trong hình ảnh về Hai Bà Trưng. Tuy nhiên, đó là truyện sáng tác cuối thời Lê sơ, đầu thời Mạc, là tập “Thiên Nam cổ tích”, do Nguyễn Hãng biên soạn. Trong đó, ở “Truyện Trưng vương” kể rằng, trong một lần Vua Lý Anh Tông cầu đảo nằm mộng, thấy hai người đội mũ phù dung, mặc áo xanh xiêm đỏ, đánh ngựa sắt theo gió mưa đi tới. Vua hỏi, hai người đáp: "Chúng tôi là hai chị em họ Trưng đây, vâng mệnh Thượng đế đi làm mưa".

Ngựa cũng xuất hiện trong những câu chuyện buồn của các vị vua nước Việt. Đầu tiên là chuyện về An Dương Vương, khi bị thua Triệu Đà, đã đưa công chúa Mị Châu lên ngựa, bỏ chạy đến tận bờ biển (có thuyết nói là tận Nghệ An ngày nay), khiến hậu thế thắc mắc ngựa nào có thể chở hai người đi xa đến vậy. Câu chuyện tương tự cũng lặp lại, khi Triệu Việt Vương bị Lý Phật Tử đánh bại, đã cưỡi ngựa chạy đến biển Đại Nha (cửa Đại An ở Nam Định, nay là Ninh Bình), rồi nhảy xuống biển. Đó cũng là dấu hiệu của việc họ Triệu mất nước.

Oai phong lưng ngựa

Hình ảnh oai vệ của vị vua anh hùng nước Việt là Lê Hoàn được chính sử miêu tả gắn liền trên lưng ngựa. Đó là sự kiện bang giao năm Hưng Thống thứ 2 (990), khi nhà Tống sai Tống Cảo và Vương Thế Tắc mang chế sách sang sắc phong thêm cho nhà vua. Sử sách tả cảnh nhà vua ra đón sứ giả ở ngoại thành Hoa Lư như sau: “Vua cầm cương ngựa cùng đi với sứ thần. Đến cửa Minh Đức, vua bưng chế thư để lên trên điện, không lạy, nói dối là năm vừa rồi đi đánh giặc Man, bị ngã ngựa đau chân. Cảo và Tắc tin là thực”.

Sang thời Lý, chính sử đã ghi việc các vua Lý thường xuyên luyện tập với chiến mã. Như “Toàn thư” ghi, năm Chính Long Bảo Ứng thứ 8 (1170), đời Vua Lý Anh Tông: “Vua tập bắn và cưỡi ngựa ở phía Nam thành Đại La, đặt tên là Xạ Đình, sai các quan võ hằng ngày luyện tập phép công chiến phá trận”.

Nếu truyện dã sử Trung Quốc hấp dẫn với những chiến tướng trên lưng ngựa, từ Lã Bố, Quan Vũ đến Tiết Đình San, Nhạc Phi, hay những điển tích nổi tiếng như Triệu Tử Long một mình một ngựa xông pha phá vòng vây của quân Tào ở Đương Dương, thì trong chính sử nước ta cũng không thiếu những vị tướng oai hùng như vậy. Điển hình như đầu thời Trần, trong cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ lần thứ nhất năm 1257, khi Vua Trần Thái Tông cầm quân lên cự địch ở Bình Lệ Nguyên, quan quân thất thế vì thế giặc quá mạnh. Sử ghi: “Vua ngoảnh trông tả hữu, chỉ có Lê Phụ Trần một mình một ngựa, ra vào trận giặc, sắc mặt bình thản như không”.

Hay, như viên thủ lĩnh nổi loạn là Nguyễn Hữu Cầu cũng được chính sử mô tả là dũng tướng trên tuấn mã. Bộ “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” của các sử quan nhà Nguyễn, khi viết về sự kiện Phạm Đình Trọng bắt được Nguyễn Hữu Cầu đầu năm 1751, đã mô tả: “Hữu Cầu lại là người mạnh khỏe, nhanh nhẹn, chiến đấu hăng, trí mưu quỷ quyệt trăm đường, nhiều lần bị mấy vòng vây, chỉ một mình một ngựa vượt vây xông ra, rồi vài hôm sau lại có quân đông hàng vạn. Khi ra trận, một mình cưỡi ngựa, cầm siêu đao, đi lại như bay, quân sĩ không ai là không sợ hãi chạy dạt, đến các tướng cũng phải tránh uy phong của hắn, chỉ một mình Đình Trọng thề quyết chí giết bằng được, nên triều đình vững lòng. Đình Trọng cầm quân có kỷ luật, hễ trận nào Hữu Cầu gặp Đình Trọng liền bị thua”.

Đặc biệt, trong thời Nam Bắc triều, chiến dịch ra Thăng Long năm 1591 đánh nhà Mạc của chúa Trịnh Tùng sử dụng một chiến thuật đặc biệt với ngựa. Sử viết: “Chúa sai Nguyễn Hữu Liêu đem 5.000 quân tinh nhuệ và voi khỏe cùng ngựa bọc sắt, đến giờ Dần, thẳng tiến đến đóng ở cầu Cao tại góc Tây Bắc thành, phóng lửa hiệu, bắn liền 7 phát, thiêu đốt nhà cửa, khói lửa khắp trời. Trong thành sợ hãi rối loạn”. Trận đó, Mạc Mậu Hợp phải bỏ Thăng Long chạy trốn.

Những lần xuất quân đánh ra Thăng Long, Bắc Bình vương Nguyễn Huệ (Vua Quang Trung) đều ruổi trên lưng ngựa. Như mô tả trong chính sử nhà Nguyễn, thì trong trận tấn công chớp nhoáng ra bắt Vũ Văn Nhậm năm 1788, khi Văn Nhậm ra ngoài thành đón, Nguyễn Huệ đã dùng kế “đem ngựa đang cưỡi và lọng đang che nhường cho Văn Nhậm” để vỗ yên viên tướng này, rồi vào đến nội thành mới sai trói đem chém.

Ngày nay, chúng ta được nhìn hình ảnh về Vua Quang Trung trên lưng ngựa là từ bức vẽ của họa sĩ cung đình nhà Thanh, trong lần nhà vua sai người đóng giả mình sang nước Thanh chúc thọ Vua Càn Long. Tất nhiên, chính sử nước Thanh không ghi rằng, nhân vật sang nước họ là “vua giả” nước Việt. Sử nhà Nguyễn, bộ “Đại Nam thực lục” cũng ghi rằng: “Khi Huệ đến dưới bệ để từ biệt về nước, vua Thanh vời đến gần bên chỗ ngồi, thân mật vỗ vai an ủi phủ dụ ôn tồn, sai họa công vẽ hình mà ban cho”. Trong bức tranh, chân dung Vua Quang Trung là một võ tướng mặc nhung phục, mũ đâu mâu, tay cầm roi oai phong trên lưng ngựa.

Lê Tiên Long

Nguồn ANTG: https://antg.cand.com.vn/kinh-te-van-hoa-the-thao/ngua-chien-trong-su-viet-i795673/