Kế sách phát triển xứ Quảng giữa thế kỷ XVI

ĐNCT - Không đợi đến chuyến vượt đèo Hải Vân tuần du phương Nam của Nguyễn Hoàng vào năm 1602 mà ngay từ giữa thế kỷ XVI, Quảng Nam đã lọt vào "mắt xanh" của triều đình nhà Lê trung hưng, với vị thế là một vùng đất tối quan trọng về địa chính trị …

Trang đầu bức thư của Phụ quốc chính Nguyễn gửi Bắc quân Đô đốc Bùi Tá Hán năm 1546. Ảnh: Tư liệu.

Trang đầu bức thư của Phụ quốc chính Nguyễn gửi Bắc quân Đô đốc Bùi Tá Hán năm 1546. Ảnh: Tư liệu.

Những kế sách mang tầm chiến lược

Cuốn sử liệu Phủ tập Quảng Nam ký sự biên soạn vào đời vua Lê Anh Tông, niên hiệu Chính Trị (1558 - 1571), cho hay: Tháng Năm năm Nguyên Hòa thứ 14 (1546), sau khi lấy lại thừa tuyên Quảng Nam từ tay nhà Mạc, triều đình đặc phái sứ thần đi theo viên Tham quân cùng viên Hướng đạo sứ vào dinh Quảng Nam tuyên đọc sắc chỉ phong cho Bắc quân Đô đốc Bùi Tá Hán làm Quảng Nam dinh Đô tướng.

Theo cuốn sử liệu đã dẫn, trong dịp này, có một bức thư ngắn viết ngày 22 tháng Giêng năm Nguyên Hòa thứ 14 (1546) của Phụ quốc chính Nguyễn gửi Bắc quân Đô đốc Bùi Tá Hán.

Dù dưới danh nghĩa là "vài lời dặn dò" vị Đô đốc tài ba vừa thắng trận và được giao nhiệm vụ "ở lại trấn nhậm một nửa đất nước, gánh vác trọng trách ở miền biên giới phía Nam", song bức thư cũng cho thấy rõ vai trò hết sức quan trọng của Quảng Nam cùng các kế sách chiến lược của triều đình để phát triển vùng biên viễn này trong bối cảnh đẩy mạnh công cuộc "phù Lê diệt Mạc".

Trước hết, trấn Quảng Nam được đánh giá là miền đất “địa quảng, điền phì, hộ hy, nhân thiểu”, nghĩa là đất rộng, ruộng màu mỡ nhưng hộ dân thưa, người ít.

Nhận định ấy cho thấy trong con mắt của nhà Lê trung hưng, Quảng Nam không phải một vùng đất nghèo khó, mà là một không gian giàu tiềm năng đất đai để phát triển nông nghiệp nhưng lại đang thiếu nguồn nhân lực khai phá. Đây là cơ sở để triều đình chủ trương đưa dân nghèo từ phía Bắc vào Quảng Nam khai khẩn, lập làng và sản xuất lương thực để “đồ cửu kế” - mưu tính kế lâu dài.

Cũng xin được nhắc lại rằng, vào giữa thế kỷ XVI vùng thượng du đầu nguồn xứ Quảng là địa bàn cư trú của đồng bào dân tộc thiểu số du canh du cư, đời sống kinh tế bấp bênh, lại "bất tuân vương hóa" và thường gây hiềm khích với người Kinh.

Cạnh đó là cái "họa sau lưng", tức mối nguy thường trực đến từ lân bang Chiêm Thành. Họ vốn có hiềm khích với Đại Việt và thường quấy nhiễu hậu cứ của nhà Lê trung hưng từ phía Nam mỗi khi bị nhà Mạc xúi giục.

Từ thực tế đáng lo ngại đó, bức thư đã xác định các kế sách vừa trước mắt, vừa lâu dài đối với cả dân cư miền thượng du và Chiêm Thành.

Theo đó, đối với dân cư miền thượng du nên ‘‘đối xử có cương có nhu sao cho hòa thuận, bằng cách dựa vào chính sách nhu viễn của triều đình để chinh phục họ từ đáy lòng, lấy việc vỗ yên là chính".

Còn đối với Chiêm Thành thì "nên ẩn nhẫn né tránh mọi đụng chạm đối với người Chàm" nhằm "tập trung tổng lực hướng mũi nhọn về phía ngụy Mạc, càn quét tận sào huyệt của chúng, thu phục sơn hà". Bức thư xác định rõ đây là "cấp vụ", tức là nhiệm vụ cấp bách.

Thực hiện các nội dung chỉ đạo có tính chiến lược trên, Quảng Nam dinh Đô tướng Bùi Tá Hán đã góp phần quan trọng, đưa Quảng Nam từ chỗ giữa thế kỷ XVI dân cư khá thưa thớt (ước chừng 10.000 hộ với khoảng 5 vạn dân), trở nên xứ sở đông dân và thịnh vượng dưới thời Chúa Nguyễn, được Bảng nhãn Lê Quý Đôn (1726 - 1784) hết lời ca ngợi trong Phủ biên tạp lục: “Xứ Quảng là đất phì nhiêu nhất thiên hạ… Ruộng đồng rộng rãi, lúa gạo tốt đẹp, trầm hương, tốc hương, sừng tê, ngà voi, vàng bạc, đồi mồi, trai ốc, bông, sáp, đường, mật, dầu sơn, cau, hạt tiêu, cá muối, gỗ lạt, đều sản xuất ở đây”.

Chính sách dân tộc và biên giới cũng được Bùi Tá Hán và sau đó là Nguyễn Hoàng thực thi đạt kết quả khả quan. Mối đe dọa của Chiêm Thành từ phía Nam cũng dần bị loại trừ, bảo đảm an toàn cho hậu cứ của nhà Lê.

Đáng chú ý là vùng đất Quảng Nam rộng lớn, giàu có và ổn định chính là bàn đạp vững chắc cho các Chúa Nguyễn trong hành trình tiến về phương Nam vào các thế kỷ XVII-XVIII.

Tác giả bức thư năm 1546 là ai?

Theo Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1525-1613) - Sáng tổ vương quốc nhà Nguyễn của Hoàng Đình Hiếu, tác giả của bức thư chính là Nguyễn Hoàng, được viết hơn 8 tháng sau khi thân phụ của ông là Hưng Quốc công Nguyễn Kim bị ám hại.

Tuy nhiên, theo chúng tôi, cụm từ "Phụ quốc chính" gắn với Nguyễn Hoàng e không ổn cho lắm. Bởi vì, sau khi Nguyễn Kim đột ngột qua đời, người con rể của ông - Dực Nghĩa hầu Trịnh Kiểm - được giao toàn bộ binh quyền của nhà Lê, khi nắm giữ cương vị Thái phó, tước Lạng Quốc công. Trịnh Kiểm tiếp tục phò vua Lê Trang Tông nhưng trên thực tế trở thành người điều hành tối cao của chính quyền và quân đội.

Trong khi đó, Nguyễn Hoàng lúc ấy còn quá trẻ, mới chỉ mang tước Hạ Khê hầu. Trong cấu trúc chính trị Nam triều năm 1546, ông chưa giữ vai trò chính trị - quân sự lớn và độc lập.

TS. Nguyễn Đăng Vũ cho rằng, bức thư trong Phủ tập Quảng Nam ký sự do Nguyễn Kim viết. Nhận định này phù hợp với thông tin từ Phủ biên tạp lục. Theo đó, Nguyễn Kim mất ngày 20 tháng 5 năm Nguyên Hòa thứ 14 (1546), sau khi viết bức thư cho Bùi Tá Hán gần 4 tháng.

Thế nhưng, theo Đại Việt sử ký toàn thư thì Nguyễn Kim lại mất ngày 20 tháng 5 năm Nguyên Hòa thứ 13 (1545), nghĩa là trước ngày viết bức thư hơn 8 tháng!?

Vậy ai mới là tác giả của bức thư năm 1546? Thiết nghĩ đấy là câu hỏi khá lý thú vị cần được làm sáng tỏ, bởi nó gắn liền với sự phát triển mạnh mẽ của vùng đất Quảng Nam không chỉ nửa sau thế kỷ XVI mà còn các giai đoạn lịch sử kế tiếp.

VÂN TRÌNH

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/ke-sach-phat-trien-xu-quang-giua-the-ky-xvi-3354788.html