Kết luận số 18-KL/TW gắn với mục tiêu tăng trưởng 2 con số - Bài 2: Đổi mới căn bản tư duy phát triển

Điều đặc biệt của giai đoạn hiện nay là chủ trương của Đảng vừa mang tầm chiến lược, đặt ra mục tiêu nhưng cũng đồng thời đưa ra các giải pháp cụ thể. Tăng trưởng 2 con số không phải chỉ bằng mệnh lệnh mà bằng một sự thay đổi căn bản tư duy, đặt nền tảng cho phát triển.

Mỗi dòng vốn đều phải hướng đến việc kích hoạt năng lực và khát vọng phát triển. Ảnh: TTXVN.

Mỗi dòng vốn đều phải hướng đến việc kích hoạt năng lực và khát vọng phát triển. Ảnh: TTXVN.

Không vận hành trên nền tảng một nguồn lực đơn nhất

Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV được tổ chức ngày 13/4/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định phải đổi mới căn bản tư duy phát triển, khai thác hiệu quả mọi nguồn lực và vốn để tăng trưởng bền vững. Một nền kinh tế muốn tăng trưởng cao, bền vững và có khả năng bứt phá, không chỉ vận hành trên nền tảng một nguồn lực đơn nhất, càng không thể đặt toàn bộ gánh nặng phát triển lên vai Nhà nước. Đồng thời, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ: “Mục tiêu tăng trưởng hai con số là mục tiêu lớn, đòi hỏi quyết tâm rất cao, cách làm sáng tạo, bảo đảm sao cho vĩ mô đúng, nhưng vi mô cũng phải đúng. Nếu vi mô không thông suốt, dòng vốn không chảy đến nơi cần, lao động không được sử dụng hiệu quả, sản xuất gặp tắc nghẽn, hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ không có động lực vươn lên, thì tăng trưởng sẽ thiếu lực đẩy, thiếu sức bền và thiếu nền tảng phát triển bền vững cho cả quốc gia.”

“Nền kinh tế chỉ thực sự mạnh khi từng tế bào của nó khỏe mạnh. Vì vậy, tăng trưởng thực chất phải được hình thành cả hai chiều từ trên xuống và cả từ dưới lên, trong từng mắt xích của nền kinh tế, từ từng hộ gia đình, từng hộ kinh doanh, từng cơ sở sản xuất, từng doanh nghiệp. Khi nội lực trong dân được khơi thông, được kết nối với nguồn lực nhà nước, với hạ tầng, với thị trường, với công nghệ, với đào tạo, với tín dụng, với quy hoạch phát triển, thì nền kinh tế sẽ có một nền móng nội lực vững chắc cho tăng trưởng một cách ổn định, bền vững.Vì vậy, phải kiến tạo một môi trường phát triển để hàng triệu người dân nhận thấy cơ hội thực sự, để mỗi hộ gia đình, mỗi hộ kinh doanh có điều kiện thuận lợi để đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh chân chính và gắn bó lâu dài với nền kinh tế. Đồng thời, phải đảm bảo rằng các doanh nghiệp nhìn thấy thể chế ổn định, minh bạch, chi phí tuân thủ hợp lý, hạ tầng đồng bộ và khả năng tiếp cận thị trường rộng mở, từ đó tạo ra động lực nội sinh mạnh mẽ, thúc đẩy sáng tạo, khởi nghiệp và phát triển bền vững”.

(Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm)

Với nhận định nền kinh tế chỉ thực sự mạnh khi từng tế bào của nó khỏe mạnh, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu tăng trưởng thực chất phải được hình thành cả hai chiều từ trên xuống và cả từ dưới lên, trong từng mắt xích của nền kinh tế, từ từng hộ gia đình, từng hộ kinh doanh, từng cơ sở sản xuất, từng doanh nghiệp. Khi nội lực trong dân được khơi thông, được kết nối với nguồn lực nhà nước, với hạ tầng, với thị trường, với công nghệ, với đào tạo, với tín dụng, với quy hoạch phát triển, thì nền kinh tế sẽ có một nền móng nội lực vững chắc cho tăng trưởng một cách ổn định, bền vững.

Từ đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gợi mở phải kiến tạo một môi trường phát triển để hàng triệu người dân nhận thấy cơ hội thực sự, để mỗi hộ gia đình, mỗi hộ kinh doanh có điều kiện thuận lợi để đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh chân chính và gắn bó lâu dài với nền kinh tế. Đồng thời, phải đảm bảo rằng các doanh nghiệp nhìn thấy thể chế ổn định, minh bạch, chi phí tuân thủ hợp lý, hạ tầng đồng bộ và khả năng tiếp cận thị trường rộng mở, từ đó tạo ra động lực nội sinh mạnh mẽ, thúc đẩy sáng tạo, khởi nghiệp và phát triển bền vững.

Mỗi cơ chế, chính sách, mỗi dự án hạ tầng, mỗi dòng vốn đều phải hướng đến việc kích hoạt năng lực và khát vọng phát triển trong dân, biến cơ hội tiềm năng thành thực tế tăng trưởng và biến niềm tin thành động lực phát triển lâu dài cho đất nước, cho nền kinh tế.

Cũng tại Hội nghị này, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị cho biết nhóm nhiệm vụ, giải pháp về phát kinh tế-xã hội 5 năm 2026-2030 gồm 11 nhiệm vụ cụ thể và các giải pháp trọng tâm, như: thống nhất tư duy, nhận thức, khát vọng và hành động; đổi mới quản trị thực thi để phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế “2 con số”; tập trung hoàn thiện thể chế phát triển đồng bộ, hiện đại, cạnh tranh để tạo đột phá tăng trưởng; chuyển đổi mô hình tăng trưởng, lấy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; đẩy mạnh cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực; phát triển các khu vực doanh nghiệp và các mô hình kinh tế mới; thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; khơi thông và đa dạng hóa chuỗi cung ứng, kênh dẫn vốn; tập trung đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và chuẩn mực con người Việt Nam; hiện đại hóa nền giáo dục quốc dân, nâng cao chất lượng đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài; phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, thúc đẩy đô thị hóa, phát triển đô thị…

Theo Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị, tổ chức thực hiện là khâu quyết định, đòi hỏi các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, nhất là người đứng đầu, phải chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể, gắn rõ trách nhiệm, rõ lộ trình, rõ kết quả; triển khai đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả; tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, xử lý dứt điểm các vấn đề phát sinh. Chỉ khi tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, các mục tiêu, nhiệm vụ của Kết luận mới thực sự đi vào cuộc sống.

Thủ tướng Lê Minh Hưng đã nói một cách hình ảnh trước Quốc hội: “Xây nhà phải gia cố móng trước khi nâng tầng. Chúng ta không chấp nhận tăng trưởng nóng; tăng trưởng cao mà phải đánh đổi bằng sự bất ổn vĩ mô, vì cái giá phải trả sẽ rất đắt và lớn hơn rất nhiều”.

Nhà nước cần dịch chuyển từ vai trò nhà đầu tư trực tiếp sang vai trò thiết kế và tạo lập môi trường để mọi nguồn lực trong xã hội được huy động và phân bổ theo tín hiệu thị trường, dưới khuôn khổ thể chế minh bạch, ổn định. Trên nền tảng đó, cần định vị lại vai trò của các nguồn vốn trong một cấu trúc phát triển mới nơi các dòng vốn không tồn tại biệt lập mà tương tác, khuếch đại và dẫn dắt lẫn nhau.

Vốn nhà nước phải được định vị đúng bản chất là vốn mồi, vốn kiến tạo để định hình không gian phát triển, giảm thiểu rủi ro ban đầu, từ đó dẫn dắt và kích hoạt hiệu quả các dòng vốn ngoài nhà nước. Vốn doanh nghiệp, bao gồm khu vực tư nhân và FDI, cần được định hướng vào các ngành sản xuất giá trị gia tăng cao, các dự án đổi mới sáng tạo và các chuỗi giá trị tri thức.

Nguồn vốn vay nước ngoài phải được sử dụng theo nguyên tắc chọn lọc chiến lược, gắn với năng lực hấp thụ và khả năng trả nợ trong dài hạn, ưu tiên cho các dự án hạ tầng then chốt và các lĩnh vực có khả năng lan tỏa cao.

Thị trường tài chính, bao gồm thị trường vốn, tín dụng và trái phiếu, phải thực sự trở thành kênh dẫn vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế thực. Trọng tâm là hướng dòng vốn vào các ngành sản xuất, đổi mới sáng tạo và hệ thống hạ tầng thiết yếu, qua đó nâng cao chất lượng tăng trưởng.

Ba đột phá chiến lược

Nói về Kết luận số 18, trong báo cáo trước Quốc hội, Thủ tướng Lê Minh Hưng đã khẳng định: dù thách thức là rất lớn, nhưng khi đã thống nhất cao về tư duy, nhận thức và hành động, cùng sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, hoàn toàn có cơ sở để đạt được mục tiêu 2 con số mà Nghị quyết Trung ương 2 đã đặt ra.

Về các giải pháp, Thủ tướng cho biết Chính phủ sẽ tập trung thực hiện ba đột phá chiến lược.

Thứ nhất là đột phá về thể chế. Theo Thủ tướng, thể chế là con đường, là hành lang thông thoáng để cỗ xe kinh tế Việt Nam tiến lên. Trung ương, Bộ Chính trị đã giao Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương chủ trì xây dựng Nghị quyết về mô hình phát triển đất nước trong giai đoạn mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để Hội nghị Trung ương 3 xem xét, quyết định.

“Vẫn cỗ xe đó, nhưng có thể chế đồng bộ, giống như con đường được nâng cấp, chất lượng cao thì chúng ta có thể đạt được tốc độ cao hơn” - Thủ tướng so sánh.

Theo đó, ngay trong năm 2026, phải xử lý dứt điểm một loạt vấn đề về thể chế. Cụ thể, phải tổng rà soát hệ thống pháp luật, xây dựng chiến lược hệ thống pháp luật trong kỷ nguyên mới; giải quyết vướng mắc trong vận hành của chính quyền địa phương hai cấp (chậm nhất vào quý II/2026), củng cố, nâng cao năng lực cán bộ cấp cơ sở để chính quyền địa phương 2 cấp hoạt động thông suốt, hiệu quả.

Cùng với đó, hoàn thành đồng bộ việc lập, điều chỉnh và phê duyệt các quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch sử dụng đất (quý II/2026). Đặc biệt, phải giải quyết dứt điểm hàng nghìn dự án còn lại đang tồn đọng, vướng mắc về đất đai, nguồn vốn, kể cả các dự án năng lượng tái tạo; Chính phủ sẽ đề xuất, báo cáo cấp có thẩm quyền, trong đó có việc đề xuất Quốc hội sửa đổi, bổ sung Nghị quyết 170 về cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án, đất đai.

“Trước khi chúng ta nói đến các động lực tăng trưởng mới, thì nguồn lực rất lớn đang tồn đọng tại các dự án. Nếu khơi thông được, đây sẽ là nguồn lực rất lớn đóng góp vào tăng trưởng” - Thủ tướng nói.

Thứ hai là đột phá về hạ tầng, Thủ tướng cho biết sẽ tập trung triển khai các dự án trọng điểm, chiến lược, nhất là giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, hàng không, cảng biển, năng lượng. Đồng thời, điều chỉnh Quy hoạch Điện VIII để chủ động chiến lược về năng lượng, nâng cao năng lực dự trữ quốc gia, phát triển các nhà máy điện nền với công nghệ mới và năng lượng tái tạo.

Thứ ba là chất lượng nguồn nhân lực, Thủ tướng cho biết các cơ quan sẽ tiếp tục triển khai Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Trong đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Bộ Khoa học và Công nghệ đang xây dựng các chương trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, gắn kết chặt chẽ giữa các viện nghiên cứu, trường đại học và cộng đồng doanh nghiệp để đáp ứng yêu cầu phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Thủ tướng cho biết, để đạt tăng trưởng hai con số, cần nguồn lực đầu tư rất lớn. Nhiệm kỳ này, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần đạt khoảng 40% GDP (tương đương 38,5 triệu tỷ đồng), cao hơn mức 33% của nhiệm kỳ trước. Vốn đầu tư công từ ngân sách Nhà nước nhiệm kỳ này khoảng trên 8 triệu tỷ đồng, so với nhiệm kỳ trước khoảng 2,87 triệu tỷ đồng. Tuy vậy, con số khoảng trên 8 triệu tỷ đồng đầu tư công này cũng chỉ đáp ứng khoảng 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, 80% còn lại bắt buộc phải huy động từ nguồn lực xã hội, doanh nghiệp trong nước và vốn đầu tư trực tiếp, gián tiếp từ nước ngoài. Theo Thủ tướng, để thu hút được nguồn vốn này, không có cách nào khác là phải có một hành lang pháp lý minh bạch, rõ ràng, khuyến khích người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài.

Khơi dậy niềm tin và động lực

Đất nước đang đứng trước thời cơ lớn. Nhưng thời cơ chỉ trở thành hiện thực khi được đón nhận bằng tư duy mới, thể chế mạnh, bộ máy đồng bộ và niềm tin xã hội được vun đắp từng ngày.

Niềm tin của nhân dân về mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số là niềm tin vào khát vọng bứt phá của cả dân tộc trong kỷ nguyên mới với những cam kết chính trị mạnh mẽ. Và niềm tin của nhân dân được củng cố khi đã thấy được sự quyết liệt trong việc tháo gỡ các “điểm nghẽn” pháp lý và đổi mới tư duy điều hành từ trung ương đến địa phương.

Như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định: “Điều quan trọng hơn cả là phải tạo được niềm tin và động lực phát triển trong toàn xã hội. Khi người dân tin tưởng, doanh nghiệp tin tưởng, hệ thống vận hành thông suốt, nguồn lực được khơi thông, thì khát vọng phát triển sẽ được chuyển hóa thành sức mạnh thực tế, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn tới”.

Niềm tin của nhân dân lúc này chính là nguồn lực quan trọng nhất để biến thách thức thành động lực, đưa Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển bứt phá trong kế hoạch 5 năm 2026-2030. Đúng như quan điểm của Đảng, “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới”. Đích đến của tăng trưởng 2 con số suy cho cùng là thành quả mà nhân dân thụ hưởng.

Minh họa AI.

Minh họa AI.

Đức Lê

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/ket-luan-so-18-kl-tw-gan-voi-muc-tieu-tang-truong-2-con-so-bai-2-doi-moi-can-ban-tu-duy-phat-trien.html