Khám phá tranh dân gian làng Sình xứ Huế

Làng Sình được hình thành khá sớm ở Đàng Trong, đến nay nơi đây vẫn gìn giữ nghề làm tranh dân gian, để rồi những bức tranh ấy bền bỉ hiện diện trong đời sống văn hóa người dân TP Huế.

Làng Sình là tên gọi chữ nôm của làng Lại Ân (thuộc phường Dương Nỗ), nằm cách trung tâm TP Huế khoảng 9km, xuôi theo sông Hương. Nơi đây từ lâu được xem là một làng văn vật, nổi tiếng với nghề làm tranh dân gian và hội vật tổ chức vào ngày mồng 10 tháng Giêng Âm lịch hằng năm.

Làng hình thành khá sớm ở Đàng Trong. Vị trí ven sông Hương, lại ở đối diện Thanh Hà, thương cảng sầm uất dưới thời các chúa Nguyễn, tạo điều kiện cho giao thương và tiếp biến văn hóa.

Người dân sinh sống chủ yếu bằng nghề nông, đồng thời phát triển nhiều nghề thủ công như đan lát, làm nón, làm giấy. Làng còn có nghề làm hương, làm hạt bỏng, phục vụ cúng lễ. Chính những nền tảng đó đã góp phần hình thành nghề in tranh mộc bản ở Sình.

Ngay từ đầu, tranh làng Sình không hướng đến thú thưởng ngoạn đơn thuần mà gắn chặt với đời sống tín ngưỡng. Tranh được dùng để thờ, để hóa trong các lễ cầu an, giải hạn. Mỗi bức tranh phản ánh niềm tin dân gian, gửi gắm ước mong bình an, may mắn của người dân.

Ngay từ đầu, tranh làng Sình không hướng đến thú thưởng ngoạn đơn thuần mà gắn chặt với đời sống tín ngưỡng. Tranh được dùng để thờ, để hóa trong các lễ cầu an, giải hạn. Mỗi bức tranh phản ánh niềm tin dân gian, gửi gắm ước mong bình an, may mắn của người dân.

Mang đậm màu sắc tín ngưỡng dân dã, tranh làng Sình vẫn tạo dấu ấn riêng qua chất liệu, màu sắc, chủ đề, đường nét và bố cục. Không chỉ có giá trị thẩm mỹ, tranh còn thể hiện quan niệm sống, nếp sinh hoạt và cách con người nơi đây nhìn nhận về thiên nhiên, xã hội, lịch sử, văn hóa quê hương.

Mang đậm màu sắc tín ngưỡng dân dã, tranh làng Sình vẫn tạo dấu ấn riêng qua chất liệu, màu sắc, chủ đề, đường nét và bố cục. Không chỉ có giá trị thẩm mỹ, tranh còn thể hiện quan niệm sống, nếp sinh hoạt và cách con người nơi đây nhìn nhận về thiên nhiên, xã hội, lịch sử, văn hóa quê hương.

Về kỹ thuật, tranh Sình có những điểm tương đồng với tranh Đông Hồ, tranh Hàng Trống. Điều này gợi khả năng trong quá trình di cư vào Đàng Trong, các nghệ nhân đã mang theo nghề truyền thống để mưu sinh và rồi bám rễ trên vùng đất mới.

Về kỹ thuật, tranh Sình có những điểm tương đồng với tranh Đông Hồ, tranh Hàng Trống. Điều này gợi khả năng trong quá trình di cư vào Đàng Trong, các nghệ nhân đã mang theo nghề truyền thống để mưu sinh và rồi bám rễ trên vùng đất mới.

Tranh làng Sình truyền thống hoàn toàn làm thủ công. Từ khâu làm giấy, pha màu đến in, vẽ đều đòi hỏi sự tỉ mỉ và công phu. Tranh thường in hoặc vẽ trực tiếp lên giấy dó, từ đó có thể chế tác thành giấy điệp phục vụ in tranh.

Tranh làng Sình truyền thống hoàn toàn làm thủ công. Từ khâu làm giấy, pha màu đến in, vẽ đều đòi hỏi sự tỉ mỉ và công phu. Tranh thường in hoặc vẽ trực tiếp lên giấy dó, từ đó có thể chế tác thành giấy điệp phục vụ in tranh.

Nếu trước kia tranh Sình chủ yếu phục vụ thờ cúng, thì hiện nay ngoài tranh tín ngưỡng còn xuất hiện thêm dòng tranh trang trí với các chủ đề như Bát âm, mùa màng, sinh hoạt đời thường. Sự mở rộng đề tài giúp tranh làng Sình gần gũi hơn với đời sống đương đại nhưng vẫn giữ cốt cách dân gian.

Nếu trước kia tranh Sình chủ yếu phục vụ thờ cúng, thì hiện nay ngoài tranh tín ngưỡng còn xuất hiện thêm dòng tranh trang trí với các chủ đề như Bát âm, mùa màng, sinh hoạt đời thường. Sự mở rộng đề tài giúp tranh làng Sình gần gũi hơn với đời sống đương đại nhưng vẫn giữ cốt cách dân gian.

Trước đây, tranh thường được làm vào thời điểm cận Tết. Các thành viên trong gia đình cùng tham gia, mỗi người phụ trách một công đoạn. Do mỗi vị trí trên tranh tương ứng một màu cố định nên việc phân chia công việc khá thuận lợi. Tùy độ tinh xảo của từng phần tranh mà có sự phân công phù hợp.

Trước đây, tranh thường được làm vào thời điểm cận Tết. Các thành viên trong gia đình cùng tham gia, mỗi người phụ trách một công đoạn. Do mỗi vị trí trên tranh tương ứng một màu cố định nên việc phân chia công việc khá thuận lợi. Tùy độ tinh xảo của từng phần tranh mà có sự phân công phù hợp.

Nghề làm tranh ở làng Sình ngày nay không còn phổ biến rộng rãi khắp làng như trước, nhưng không vì vậy mà nó không còn giá trị. Ở làng, vẫn có những gia đình có nguồn thu nhập chính từ nghề tranh. Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước chính là người giữ lửa cho làng nghề tiếp tục phát triển.

Nghề làm tranh ở làng Sình ngày nay không còn phổ biến rộng rãi khắp làng như trước, nhưng không vì vậy mà nó không còn giá trị. Ở làng, vẫn có những gia đình có nguồn thu nhập chính từ nghề tranh. Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước chính là người giữ lửa cho làng nghề tiếp tục phát triển.

Nghề làm tranh làng Sình không khó nhưng cũng không dễ. Vì đây là loại tranh thờ cúng nên cần cái tâm của người làm tranh, chính vì vậy mà tranh Sình không phải là loại tranh độc bản, tùy vào khả năng cảm thụ màu sắc, kỹ năng vẽ tay và cả cung bậc cảm xúc của người nghệ nhân sẽ cho ra những dị bản khác nhau. Đó cũng là lí do khi vẽ tranh, người nghệ nhân rất tập trung, ít khi vừa vẽ vừa nói chuyện.

Nghề làm tranh làng Sình không khó nhưng cũng không dễ. Vì đây là loại tranh thờ cúng nên cần cái tâm của người làm tranh, chính vì vậy mà tranh Sình không phải là loại tranh độc bản, tùy vào khả năng cảm thụ màu sắc, kỹ năng vẽ tay và cả cung bậc cảm xúc của người nghệ nhân sẽ cho ra những dị bản khác nhau. Đó cũng là lí do khi vẽ tranh, người nghệ nhân rất tập trung, ít khi vừa vẽ vừa nói chuyện.

Cứ mỗi độ Tết đến, sắc màu tranh làng Sình lại âm thầm làm giàu thêm vẻ đẹp văn hóa xứ Huế. Những bức tranh mộc mạc ấy phản ánh đời sống tâm linh, đồng thời là một biểu hiện tiêu biểu của tạo hình dân gian vùng đất kinh kỳ xưa. Ngày nay, tranh làng Sình còn thu hút nhiều đoàn du khách trong và ngoài nước đến để tham quan, theo dõi cách làm tranh.

Khám phá tranh dân gian làng Sình xứ Huế.

Hoàng Dũng - Võ Dũng

Nguồn SK&ĐS: https://suckhoedoisong.vn/kham-pha-tranh-dan-gian-lang-sinh-xu-hue-169260207113507643.htm